Giáo Hội Việt Nam, Tài liệu Huấn Giáo, Tài liệu Phụng Vụ

NHÂN ĐỨC THỜ PHƯỢNG: HIỆN TRẠNG – GIÁO HUẤN – PHÂN ĐỊNH

Nhân đức thờ phượng: hiện trạng – giáo huấn – phân định. TÀI LIỆU DO ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN SOẠN THẢO THÁNG 6 NĂM 2019

DẪN VÀO

  1. Hỡi Kitô hữu, hãy ý thức phẩm giá của bạn
  2. HIỆN TRẠNG ĐỜI SỐNG THỜ PHƯỢNG
  3. Sự phong phú của đời sống thờ phượng
  4. Những thực hành không xứng hợp
  5. NHỮNG HƯỚNG DẪN CỦA HỘI THÁNH
  6. Nhân đức thờ phượng Kitô giáo
  7. Những nguyên lý của việc đạo đức bình dân
  8. Những nguyên lý của việc cầu nguyện xin ơn chữa lành

III. TIÊU CHUẨN PHÂN ĐỊNH MỤC VỤ

  1. Việc đạo đức bình dân
  2. Việc cầu nguyện xin ơn chữa lành

KẾT LUẬN

  1. Tính nhân văn của nhân đức thờ phượng Kitô giáo

*************

DẪN VÀO

1. “Hỡi Kitô hữu, hãy ý thức phẩm giá của bạn[1]

Phẩm giá của người Kitô hữu đạt đến viên mãn nhờ nhận biết, yêu mến và thờ phượng một Thiên Chúa Ba Ngôi, duy nhất và chân thật, để được hiệp thông với Ngài trong sự sống thần linh. Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người[2], đã sống trọn vẹn lòng hiếu thảo với Chúa Cha[3], đã nên đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng[4], và đã dạy cho nhân loại biết “thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật[5]. Chính Ngài là mẫu gương sống nhân đức thờ phượng hoàn hảo cho mọi tín hữu.

Nhờ Bí tích Rửa tội, người tín hữu được tháp nhập vào Đức Kitô[6], để “nhờ Người, với Người và trong Người” mới có thể sống trọn vẹn nhân đức thờ phượng Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong bối cảnh đa văn hoá và tôn giáo tại Việt Nam hiện nay, với nhiều thực hành tâm linh phức tạp, không phải lúc nào người Kitô hữu cũng dễ dàng phân định rõ ràng đâu là những hành động thờ phượng chân thật của mình.

Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam soạn thảo tài liệu này gửi đến mọi tín hữu Việt Nam, để đồng hành với anh chị em trong đời sống đức tin hằng ngày, và giúp anh chị em sống tình con thảo đối với Thiên Chúa và tình mến đối với nhau.

I. HIỆN TRẠNG ĐỜI SỐNG THỜ PHƯỢNG

2. Sự phong phú của đời sống thờ phượng

Quan sát đời sống đức tin của người tín hữu Việt Nam hiện nay, chúng tôi vui mừng nhận ra tâm tình thờ phượng sâu thẳm của anh chị em, biểu hiện qua những thực hành bên ngoài rất đa dạng và phong phú.

– Trước tiên là việc tham dự tích cực vào đời sống Phụng vụ của Hội Thánh. Trong suốt Năm Phụng vụ, anh chị em luôn tham dự sống động những cử hành Phụng vụ của Hội Thánh, đặc biệt là Tam Nhật Thánh, các ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng và Bí tích Hoà giải. Anh chị em cũng sốt sắng tham dự Phụng vụ Các giờ kinh được cử hành nhiều nơi, trong các nhà thờ và nhà nguyện, tại các buổi hội họp cộng đoàn, tuy chưa phổ thông. Các cử hành Phụng vụ khác cũng được anh chị em quý chuộng, như các nghi thức thánh hiến người, cung hiến nơi thờ phượng và làm phép các đồ vật sử dụng vào việc thờ tự…

– Kế đến là những biểu hiện lòng sùng kính Đức Maria. Đức Maria chiếm vị trí đặc biệt nhất trong tình cảm tôn giáo của người Công giáo Việt Nam, cả trong đời sống cá nhân lẫn cộng đoàn. Rất dễ nhận ra những việc tôn vinh Mẹ Maria gắn liền với các thánh lễ theo lịch Phụng vụ chung của Hội Thánh, hoặc riêng của mỗi giáo phận và dòng tu, cũng như những thực hành đạo đức bình dân khác nhau tuỳ mỗi địa phương. Chúng ta có thể kể ra một số thực hành tiêu biểu như: các ngày lễ kính Đức Mẹ, các ngày thứ Bảy hằng tuần, tuần tam nhật, thất nhật và cửu nhật, tháng Năm và tháng Mười, các Kinh Truyền tin, Lạy Nữ Vương thiên đàng, Mân côi, các Kinh cầu Đức Mẹ, các Kinh tận hiến cho Đức Mẹ, áo và ảnh tượng Đức Mẹ, thánh ca và hội hoạ, các trung tâm hành hương và các cuộc hành hương…

– Tiếp đến là những biểu hiện lòng tôn kính các Thiên thần, các Thánh và các Chân phước. Tuỳ tâm tình yêu mến các Thánh và vị Thánh bổn mạng riêng của mỗi cá nhân, cộng đoàn, giáo xứ và giáo phận, các thánh tích, đền thánh, nơi thánh, vật thánh được tôn kính khắp nơi. Đặc biệt, Thánh cả Giuse và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cũng chiếm một vị trí đặc biệt trong tâm tình tôn kính của người tín hữu Việt Nam.

– Sau cùng là việc cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời. Ngoài tháng Mười Một và ngày Mùng Hai Tết cầu nguyện đặc biệt cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ và người thân đã qua đời, người Công giáo Việt Nam luôn nhớ đến, viếng mộ hoặc tro cốt, cầu nguyện và thường xuyên xin lễ cho người thân đã qua đời, nhất là những ngày lễ giỗ, như cách thể hiện lòng hiếu thảo.

3. Những thực hành không xứng hợp

Vui mừng vì đời sống thờ phượng phong phú của người tín hữu, nhưng chúng tôi nhận thấy vẫn còn tồn tại những thực hành không xứng hợp hoặc lệch lạc, cụ thể như sau:

– Việc thờ ngẫu tượng, được nhận biết qua những nghi thức có tính ma thuật, dị đoan, bói toán, phù phép, thông linh, gọi hồn, trù ếm hay có hàm ý về tính dục, là những hành vi sùng bái bản thân mình hoặc các loài thụ tạo khác.

– Việc khai thác các mặc khải tư không hoặc chưa được thẩm quyền Hội Thánh chuẩn nhận, nhất là những mặc khải tư liên quan đến Đức Maria, được biểu hiện qua các hành động tuyên truyền, phổ biến, tổ chức các hình thức thờ tự lệch lạc và lôi kéo các tín hữu khác cùng thực hành…

– Việc thực hành những hình thức thờ phượng không thuộc về lòng đạo đức chân thật của Hội Thánh, không xây dựng sự hiệp thông trong Hội Thánh, được biểu hiện nơi những phong trào sai lạc, như Sứ điệp từ trời, Lòng Mẹ thương xót

– Việc lạm dụng những hình thức thờ phượng của Hội Thánh, như Lòng Chúa Thương Xót, đặc sủng chữa lành bệnh tật, việc đặt tay cầu nguyện trên bệnh nhân, các thánh tích, các nơi thánh, các cuộc hành hương, làm sai lạc bản chất của việc thờ phượng Kitô giáo là phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Từ cái nhìn tổng quát về đời sống thờ phượng, với nét phong phú xen lẫn những thực hành không xứng hợp, chúng tôi muốn mời gọi anh chị em cùng lắng nghe giáo huấn của Hội Thánh về nhân đức thờ phượng Kitô giáo.

II. NHỮNG HƯỚNG DẪN CỦA HỘI THÁNH

4. Nhân đức thờ phượng Kitô giáo[7]

Thờ phượng Kitô giáo là nhân đức nhờ đó con người, phận thụ tạo, dâng lên Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá, sự nhìn nhận, tôn vinh và suy phục uy quyền của Ngài, bằng tất cả lòng khiêm cung, yêu mến và biết ơn, hợp với lẽ công bằng[8].

Phát xuất từ sự vâng phục điều răn mến Chúa, việc thờ phượng chân thật trước hết quy hướng về vinh quang Thiên Chúa và hiệp thông với Ngài. Từ đó, việc thờ phượng dẫn đến điều răn yêu người, nghĩa là thánh hoá người tín hữu và giúp họ sống đúng phẩm giá làm người và làm con Thiên Chúa.

Vì là hoạt động của con người toàn vẹn, gồm xác và hồn, nên việc thờ phượng Kitô giáo, được thể hiện ra bên ngoài bằng các lễ nghi, phải tương hợp với tâm tình chân thật bên trong tâm hồn. Các việc thờ phượng Kitô giáo chính yếu, như Thờ lạy, Cầu nguyện, Lễ tếKhấn hứa[9], được diễn tả qua hai hình thức cụ thể là Phụng vụlòng đạo đức bình dân.

Phụng vụ là việc cử hành công trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa Ba Ngôi, được thực hiện trong lịch sử cứu độ, mà chóp đỉnh là Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Phụng vụ cũng là việc cử hành công trình tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi của Hội Thánh, Dân Thiên Chúa, để hiện tại hoá công trình cứu chuộc của Đức Kitô, đến tận cùng thời gian[10].

Là việc thờ phượng chính thức của Hội Thánh, Phụng vụ được cử hành nhằm mục đích tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi, xây dựng Hội Thánh và thánh hoá con người[11]. Vì thế, “Phụng vụ tuyệt đối không thể đón nhận những nghi thức ma thuật, dị đoan, thông linh, trù ếm hay có hàm ý tính dục[12].

Vì là việc thờ phượng chính thức của Hội Thánh, Phụng vụ phải được các thừa tác viên hợp pháp cử hành nhân danh Hội Thánh, và theo đúng nghi thức của Hội Thánh. Các cử hành Phụng vụ chính yếu của Hội Thánh là Bảy Bí tích, Phụng vụ Các giờ kinh và các Á bí tích[13].

Lòng đạo đức bình dân là cảm thức đức tin của dân Kitô giáo, được Chúa Thánh Thần soi dẫn, biểu hiện qua các việc thờ phượng cá nhân và cộng đoàn rất đa dạng, không là thành phần của Phụng vụ, nhưng vay mượn những sắc thái tinh hoa đặc thù của các nền văn hoá khác nhau[14].

Dù phân biệt với Phụng vụ, lòng đạo đức bình dân chân thật vẫn là việc thờ phượng của dân Kitô giáo, là biểu hiện lòng đạo đức của Hội Thánh, và vì thế cũng nhằm mục đích tôn vinh Thiên Chúa, xây dựng Hội Thánh và thánh hoá con người[15].

Những biểu hiện thực hành đạo đức bình dân của Hội Thánh được phân biệt theo chu kỳ Năm Phụng vụ, những việc sùng kính Đức Maria, những việc tôn kính các Thiên thần, các Thánh và các Chân phước, việc cầu nguyện cho những người đã qua đời; các đền thánh và các cuộc hành hương[16]

Phụng vụ và lòng đạo đức bình dân vừa phân biệt vừa có mối tương quan chặt chẽ. Một mặt, vì là chóp đỉnh cho mọi thực hành đạo đức bình dân quy hướng về, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực cho lòng đạo đức bình dân, nên Phụng vụ có vị trí ưu tiên và trổi vượt tuyệt đối. Mặt khác, lòng đạo đức bình dân phải hoà hợp với Phụng vụ, được khơi nguồn từ Phụng vụ và dẫn người tín hữu đến với Phụng vụ[17].

Mọi cử hành Phụng vụ đều phải theo đúng nghi thức của Hội Thánh. Riêng các việc đạo đức bình dân lại rất đa dạng về mô hình và kiểu thức biểu tỏ. Dù một số lớn những hình thức thờ phượng bình dân đã được Hội Thánh minh nhiên chuẩn nhận và khuyến khích, người tín hữu vẫn có thể tự do lựa chọn những thực hành đạo đức bình dân phù hợp cho cá nhân, gia đình hay cộng đoàn.

Việc người tín hữu được tự do lựa chọn mô hình và kiểu thức biểu tỏ lòng đạo đức bình dân có thể dẫn đến những thực hành thờ phượng lệch lạc hoặc những lạm dụng. Vì thế, Tài liệu này muốn tập trung vào việc thực hành lòng đạo đức bình dân, để khuyến khích những gì tốt lành và điều chỉnh những lệch lạc có thể có trong đời sống thờ phượng của người tín hữu Việt Nam.

5. Những nguyên lý của lòng đạo đức bình dân

Để trở nên việc thờ phượng Kitô giáo và biểu hiện lòng đạo đức của Hội Thánh, lòng đạo đức bình dân cần phải quy chiếu về những nguyên lý đức tin vững chắc sau đây:

Thiên Chúa Ba Ngôi. Là việc thờ phượng Kitô giáo, lòng đạo đức bình dân phải hướng đến mục đích tối hậu là giúp người tín hữu được “hiệp thông với Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần[18].

Hội Thánh, cộng đoàn thờ phượng. Theo ý định của Đức Kitô, Hội Thánh, hiểu như “Dân thánh được quy tụ trong sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, là một cộng đoàn thờ phượng chân thật[19].

Chức tư tế chung. Nhờ các bí tích khai tâm Kitô giáo, người tín hữu trở nên chi thể của Hội Thánh, Dân tư tế và Thân mình Đức Kitô, và được kêu gọi làm cho toàn bộ cuộc đời mình trở thành “hy lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa[20].

Lời Chúa. Lời Chúa, được Kinh Thánh cưu mang, được Hội Thánh gìn giữ, được Phụng vụ cử hành, là yếu tố ưu tiên và không thể thay thế, để Chúa Thánh Thần tác động trong đời sống thờ phượng của người tín hữu[21].

Các mặc khải tư. Lòng đạo đức bình dân thường quan tâm đến các mặc khải tư, nhất là các mặc khải liên quan đến lòng sùng kính Đức Maria. Các mặc khải tư, khi được thẩm quyền Hội Thánh chuẩn nhận, chỉ có giá trị giúp hiểu và sống mặc khải trọn vẹn và vĩnh viễn của Đức Kitô ở một thời điểm lịch sử nào đó, nhưng không cải thiện, bổ sung, vượt hơn hay sửa đổi mặc khải trọn vẹn và vĩnh viễn của Đức Kitô[22].

Hội nhập văn hoá. Lòng đạo đức bình dân được nhìn nhận là hình thức đầu tiên và căn bản cho việc “hội nhập văn hoá” của đức tin[23].

6. Những nguyên lý của việc cầu nguyện xin ơn chữa lành[24]

Vì những thực hành cầu nguyện xin ơn chữa lành cho các bệnh nhân ngày càng phổ biến giữa những tín hữu công giáo Việt Nam, nên việc đạo đức này đáng được lưu tâm cách đặc biệt.

Ý nghĩa của bệnh tật và sự chữa lành được hiểu trong mầu nhiệm cứu độ. Người Kitô hữu được mời gọi đạt đến sự sống vĩnh phúc, nhưng thực tế luôn cảm nghiệm được những khổ đau trong cuộc đời, đặc biệt là bệnh tật. Dù giải thích dưới góc độ nào, bệnh tật vẫn luôn là một sự dữ. Vì thế, việc chữa lành bệnh tật cho con người cũng thuộc về sứ vụ cứu độ của Đấng Mêsia.

Thật vậy, việc chữa lành các bệnh tật vừa là dấu chỉ sứ vụ giải thoát con người khỏi mọi sự dữ của Đấng Mêsia, vừa biểu lộ chiến thắng của vương quyền Thiên Chúa trên mọi sự dữ, vừa là biểu tượng của sự chữa lành con người toàn diện và triệt để hơn, gồm thân xác và linh hồn.

Tuy nhiên, chiến thắng của Đấng Mêsia trên bệnh tật và mọi đau khổ của nhân loại không chỉ diễn ra bằng những phép lạ chữa lành, nhưng nhất là bằng chính sự đau khổ tự nguyện trong cuộc thương khó của Ngài. Trong mầu nhiệm Vượt qua, Đức Kitô, Đấng vô tội, đã mang vào thân mình mọi đau khổ, tội lỗi và sự chết của nhân loại, đã vượt qua và đạt đến chiến thắng chung cuộc trong sự Phục sinh của Ngài.

Nhờ mầu nhiệm Vượt qua, Đức Kitô đã mang đến cho bệnh tật và đau khổ một giá trị cứu độ: mọi người đều có thể hiệp thông vào sự đau khổ sinh ơn cứu độ của Ngài bằng chính những bệnh tật và đau khổ của riêng bả