Views: 4
TỔNG QUAN Ý NGHĨA VÀ ỨNG DỤNG MỤC VỤ
Dẫn nhập tổng quát: Khuếch đại những tiếng nói âm thầm
Như chúng ta đã biết, vào ngày 27.10.2024, toàn thể Giáo Hội Công giáo hoàn vũ vui mừng cùng hiệp thông với Đại Hội Khóa 2 Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới XVI dâng Thánh lễ tạ ơn, bế mạc Đại Hội, khép lại một “tiến trình Thượng Hội Đồng” đã kéo dài suốt 3 năm kể từ ngày “Khai mạc chung” – 9.10.2021 – tại giáo đô Rôma.
Theo hướng dẫn của Tông hiến “Episcopalis communio”[1] của Đức Giáo hoàng Phanxicô cũng như cách hiểu và đánh giá chung của mọi thành phần trong Giáo Hội Công giáo, Thượng Hội Đồng Giám mục XVI không đơn thuần là một “Khóa họp”, một “sự kiện mục vụ” diễn ra theo chu kỳ hay đột xuất của Giáo Hội mà là một “tiến trình thiêng liêng và phân định, hoán cải và canh tân trong sự hiệp nhất” nhờ cuộc gặp gỡ Đức Kitô Phục sinh và “Đối thoại trong Thánh Thần”[2].
Thật vậy, trong “Văn Kiện Chung kết” (VKCK)[3] của Thượng Hội Đồng đã được Đức cố Giáo hoàng Phanxicô ấn ký phê duyệt và ban hành vào ngày 26.10.2024, chúng ta có thể tìm thấy toàn bộ ý nghĩa và kết quả “đầy thuyết phục” của Thượng Hội Đồng mà nền tảng chủ yếu đó là nhờ việc “Đối thoại trong Thánh Thần”:
“Trong đời sống Giáo hội, mỗi bước đi mới là một cuộc trở về nguồn, một kinh nghiệm đổi mới về cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh mà các môn đệ đã trải qua vào buổi chiều Phục sinh, tại Phòng Tiệc Ly. Giống như họ, chúng tôi cũng vậy, khi tham gia Đại hội Thượng Hội đồng này, chúng tôi cảm thấy được bao bọc nơi lòng Chúa xót thương, và được thu hút bởi vẻ đẹp của Người. Bằng cách thực hiện cuộc đối thoại trong Thánh Thần, bằng cách lắng nghe nhau, chúng tôi nhận ra sự hiện diện của Người ở giữa chúng tôi: sự hiện diện của Người, qua việc ban Thánh Thần, tiếp tục tạo ra nơi dân của Người một sự hiệp nhất vốn là sự hòa hợp giữa những khác biệt.” (VKCK số 1).
Chính đức cố Giáo hoàng Phanxicô, khi giới thiệu Văn kiện này cho toàn thể Dân Chúa, cũng đã nhấn mạnh cách đặc biệt về việc Thượng Hội Đồng chính là một “hành trình lắng nghe Chúa Thánh Thần, lắng nghe nhau” qua nhiều giai đoạn trên một lối đi chung mang phong cách Giáo Hội hiệp hành:
“Trong các giai đoạn khác nhau của hành trình Thượng Hội đồng mà tôi đã khởi xướng vào tháng 10/2021, chúng ta đã lắng nghe điều Chúa Thánh Thần muốn nói với Giáo hội trong thời điểm hiện tại.
Văn kiện Chung kết của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục đúc kết những thành quả của một hành trình được đánh dấu bởi việc lắng nghe Dân Thiên Chúa và sự phân định của các mục tử. Toàn thể Giáo hội, dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, đã được mời gọi diễn giải kinh nghiệm của mình và xác định các bước cần thực hiện để sống hiệp thông, thực hiện sự tham gia và thúc đẩy sứ vụ mà Chúa Giêsu Kitô đã ủy thác cho mình. Hành trình hiệp hành, được thực hiện tại các Giáo hội địa phương, sau đó đã trải qua các giai đoạn cấp quốc gia và châu lục, dẫn đến việc tổ chức Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục qua hai khóa họp vào tháng 10/2023 và tháng 10/ 2024.” (Ghi chú của ĐGH Phanxicô đi kèm với VKCK).
Cho dù Thượng Hội đồng Giám mục thế giới XVI đã bế mạc từ ngày 27.10.2024, nhưng VKCK lưu ý: “Tiến trình hiệp hành không kết thúc khi Đại hội hiện tại của Thượng Hội đồng Giám mục khép lại, mà còn bao gồm cả giai đoạn thực thi[4]” (VKCK số 9).
Chúng ta đang cùng nhau tiến bước trong “giai đoạn thực thi” hay giai đoạn làm cho “chất men” của Thượng Hội đồng, của định hướng “Hiệp hành” được dậy lên (Implementation phase); hay như cách nói của Đức cố Giáo hoàng Phanxicô trong diễn từ Bế mạc Khóa 2 của Đại hội Thượng Hội đồng, đó là:
“Ân sủng của Thiên Chúa, thông qua Thánh Thần của Ngài, thì thầm những lời yêu thương vào tâm hồn mỗi người. Phần chúng ta là khuếch đại âm thanh của những lời thì thầm ấy, chứ không bao giờ cản trở; là mở toang cánh cửa, chứ không bao giờ dựng lên những bức tường” (VKCK, Phụ lục 2, Diễn văn bế mạc).
Như một gợi ý để thực hiện cuộc “khuếch đại tiếng nói âm thầm” hay ân sủng của Chúa Thánh Thần” trong nhịp sống mục vụ, xin được chia sẻ đề tài “ĐỐI THOẠI TRONG THÁNH THẦN” TỔNG QUAN Ý NGHĨA VÀ ỨNG DỤNG MỤC VỤ với bốn nội dung chính:
– Đối thoại trong Thánh Thần: Câu chuyện của đức tin
– Đối thoại trong Thánh Thần: Nền tảng Thánh Kinh.
– Đối thoại trong Thánh Thần: Nền tảng Thánh Truyền
– Đối thoại trong Thánh Thần: Ứng dụng mục vụ.
I. ĐỐI THOẠI TRONG THÁNH THẦN: CÂU CHUYỆN CỦA ĐỨC TIN
1. Đối thoại trong Thánh Thần: Không là chuyện mới:
Cũng cần ghi nhận: thuật ngữ hay phương pháp “Đối thoại trong Thánh Thần” đã được Thượng Hội đồng Giám mục thế giới XVI sử dụng 6 lần trong VKCK; đặc biệt, ngay từ số đầu tiên, Văn kiện này đã xác nhận Thượng Hội đồng Giám mục XVI đã vận dụng xuyên suốt phương pháp này trong tiến trình Công nghị:
“Bằng cách thực hiện cuộc đối thoại trong Thánh Thần, bằng cách lắng nghe nhau, chúng tôi nhận ra sự hiện diện của Người ở giữa chúng tôi: sự hiện diện của Người, qua việc ban Thánh Thần, tiếp tục tạo ra nơi dân của Người một sự hiệp nhất vốn là sự hòa hợp giữa những khác biệt.” (VKCK số 1).
Tuy nhiên, sẽ có người tự hỏi “đối thoại trong Thánh Thần” thực chất đó là gì? Và có phải đây là một “phương pháp thực hành đức tin, cầu nguyện, nên thánh và ứng xử mục vụ mới được khám phá?”. Trước hết, chúng ta thử đi tìm một định nghĩa chính xác.
1.1. Định nghĩa của Thượng Hội đồng Giám mục XVI:
Nếu phải tìm một “định nghĩa chuẩn xác” để biết “Đối thoại trong Thánh Thần” là gì, thiết tưởng chúng ta cần tham chiếu ngay từ VKCK qua cách tóm tắt ý nghĩa của phương pháp này như sau:
“Đối thoại “trong Thánh Thần” có nghĩa là sống kinh nghiệm chia sẻ trong ánh sáng đức tin và trong việc tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa trong một bầu khí Tin mừng, trong đó Chúa Thánh Thần có thể khiến tiếng nói không thể nhầm lẫn của Ngài được nghe thấy.” (VKCK số 45).
1.2. Chỉ là một “công cụ” hạn chế:
Cứ theo định nghĩa trên, thì “đối thoại trong Thánh Thần” không phải là một phương pháp mới. Bởi vì “Chúa Thánh Thần” thì hôm qua, hôm nay mà mãi mãi vẫn vậy. Trong khi đó, Giáo Hội muôn nơi muôn thuở và bất cứ thế hệ Kitô hữu nào mà không “sống kinh nghiệm chia sẻ trong ánh sáng đức tin và trong việc tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa trong một bầu khí Tin mừng…”. Vì thế, Thượng Hội đồng XVI cũng đã xác nhận đây chỉ là một “công cụ hạn chế” nhưng mang lại nhiều hiệu quả tích cực và hữu hiệu:
“Đối thoại trong Thánh Thần là một công cụ, mặc dù có những hạn chế, nhưng nó rất hữu hiệu trong việc cho phép lắng nghe và phân định “điều Thần Khí nói với các Hội thánh” (Kh 2,7). Việc thực hành nó khơi dậy niềm vui, sự ngạc nhiên và lòng biết ơn, và được trải nghiệm như một lộ trình canh tân giúp biến đổi các cá nhân, các nhóm và chính Giáo hội.” (VKCK số 45).
2. Đối thoại trong Thánh Thần: câu chuyện của đức tin
2.1. Một tiến trình thiêng liêng: cầu nguyện, lắng nghe, phân định và hiệp nhất:
Trước hết, cần khẳng định rằng thuật ngữ hay khái niệm “Đối thoại trong Thánh Thần” không đồng nhất với đối thoại theo nghĩa xã hội học hay tâm lý học. Đây là một tiến trình thiêng liêng, trong đó các chủ thể không chỉ đối thoại với nhau, mà trước hết và trên hết, cùng lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần đang vang vọng qua Lời Chúa, qua Huấn quyền Giáo Hội, qua cảm thức đức tin (sensus fidei) của Dân Chúa, và qua chính những chuyển động nội tâm của các thành viên đang họp nhau cầu nguyện. Chính vì thế, có thể nói được rằng, “Đối thoại trong Thánh Thần” luôn bao hàm bốn chiều kích cơ bản không thể tách rời: cầu nguyện với Lời Chúa, lắng nghe trong đức tin, phân định bằng đức ái và hiệp nhất nhờ vâng phục. Như thế, đối thoại này không là cuộc tranh luận dân chủ hay tìm kiếm sự đồng thuận theo đa số, nhưng chủ yếu đó là cùng đặt mình trước thánh ý Thiên Chúa đang khơi gợi và được tỏ lộ qua những dấu chỉ của thời đại.
2.2. Một chọn lựa xuyên suốt của Thiên Chúa và con người trong lịch sử cứu độ:
Đối thoại trong Thánh Thần, thật ra, là một chọn lựa xuyên suốt của Thiên Chúa và con người trong chương trình cứu độ từ thuở “buổi đầu sáng tạo”, đến lúc “thời gian đến hồi viên mãn” và trải dài trong đời sống Hội Thánh cho đến khi “Nước Trời hoàn tất”!
Sau đây là lộ trình “Đối thoại trong Thánh Thần” trên nẻo mạc khải dài hơi” đó hay theo diễn ngôn thần học, “Đối thoại trong Thánh Thần trong Nhiệm cục cứu độ”!
II. ĐỐI THOẠI TRONG THÁNH THẦN: NỀN TẢNG THÁNH KINH
1. Đối thoại trong Thánh Thần thời Cựu ước:
1.1. Cuộc đối thoại liên lỉ giữa Thiên Chúa và Dân Người: Ngay từ Cựu Ước, Thiên Chúa không xuất hiện như một Đấng độc thoại, áp đặt ý kiến, nhưng là Thiên Chúa của giao ước, Đấng ngỏ lời với con người và mời gọi con người đáp trả. Câu hỏi đầu tiên của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ: “Ngươi đang ở đâu?” (St 3,9) không nhằm tìm kiếm thông tin, nhưng mở ra một cuộc đối thoại cứu độ. Thiên Chúa kiên nhẫn lắng nghe lời biện bạch, lời than vãn, thậm chí lời phản kháng của con người, như nơi cuộc đối thoại với Gióp (G 38-41) các Thánh Vịnh than trách (Tv 22…) hay các cuộc đối thoại của các ngôn sứ với Thiên Chúa (x. Gr 20,7-9)…
1.2. Trong hành trình Xuất Hành, dân Israel không chỉ nhận lệnh truyền, nhưng còn được mời gọi lắng nghe, suy gẫm và đáp lại. Ông Môsê thường xuyên bước vào Lều Hội Ngộ để “nói chuyện với Đức Chúa, như người ta nói chuyện với bạn hữu” (Xh 33,11). Đây chính là hình ảnh tiên trưng của đối thoại trong Thánh Thần: đối thoại diễn ra trong sự hiện diện của Thiên Chúa, với thái độ khiêm tốn và lắng nghe từ phía con người.
2. Đối thoại trong Thánh Thần nơi Đức Kitô:
2.1. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu không áp đặt chân lý từ bên ngoài, nhưng thường khơi gợi đối thoại bằng câu hỏi, bằng sự đồng hành và bằng lắng nghe: Dọc đường, Người hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai? “Các ông đáp: “Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó.” Người lại hỏi các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? ” Ông Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô.”Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người (Mc 8,27-30).
2.2. Cuộc gặp gỡ với hai môn đệ trên đường Emmau (x. Lc 24,13-35) là một mẫu mực điển hình: Chúa Giêsu bước đi cùng, lắng nghe nỗi thất vọng của họ, giải thích Kinh Thánh và chỉ tỏ mình ra trong cử chỉ bẻ bánh. Đối thoại ở đây không chỉ trao đổi lời nói, mà là tiến trình hoán cải nội tâm nhờ Thánh Thần tác động.
3. Đối thoại Thánh Thần trong Công vụ Tông đồ và thần học thánh Phaolô:
3.1. Sách Công vụ Tông đồ cho thấy rõ vai trò của đối thoại và phân định cộng đoàn dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Công đồng Giêrusalem (Cv 15) không phải là một cuộc tranh luận thắng–thua, nhưng là tiến trình lắng nghe kinh nghiệm của cộng đoàn, suy gẫm Lời Chúa và cuối cùng đi đến kết luận: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định…” (Cv 15,28). Đây chính là nền tảng Thánh Kinh rõ ràng cho phương pháp đối thoại trong Thánh Thần.
3.2. Thần học Thánh Phaolô khai triển thật phong phú mầu nhiệm Chúa Thánh Thần. Riêng phương pháp “Đối thoại trong Thánh Thần” có thể được tìm thấy qua các chiều kích:
– Thánh Thần – chủ thể nội tại của đối thoại:
Đối với thánh Phaolô, Thánh Thần không chỉ là nguồn ân sủng, mà còn là Đấng làm cho con người có khả năng lắng nghe và hiểu thánh ý Thiên Chúa. “Không ai có thể nói: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu không do Thánh Thần” (1 Cr 12,3). Mọi đối thoại đích thực trong Giáo Hội, theo Phaolô, đều bắt nguồn từ chính hành động nội tại của Thánh Thần, Đấng thấu suốt “những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa” (1 Cr 2,10). Như thế, đối thoại không chỉ là trao đổi tư tưởng, nhưng là sự tham dự vào sự hiểu biết của Thánh Thần.
– Đối thoại trong Thánh Thần hướng tới hiệp nhất trong đức ái:
Đời sống cộng đoàn Kitô hữu là không gian ưu tiên của đối thoại trong Thánh Thần. Các đặc sủng khác nhau không nhằm tạo đối đầu hay loại trừ, nhưng để “xây dựng thân thể Đức Kitô” (1 Cr 12,7; Ep 4,12). Việc phân định và sử dụng các đặc sủng đòi hỏi lắng nghe lẫn nhau trong ánh sáng Thánh Thần, với thái độ tôn trọng và khiêm tốn. Đối thoại trong Thánh Thần, theo Phaolô, luôn hướng tới hiệp nhất, trên nền tảng đức ái (x. 1 Cr 13,1-3). Đức ái không chỉ là nhân đức luân lý, mà là hoa trái của Thánh Thần (Gl 5,22). Do đó, đối thoại trong Thánh Thần luôn dẫn tới đức ái hiệp nhất nhờ tinh thần vâng phục trong đức tin sau khi phân định để nhận ra điều đẹp ý Thiên Chúa (x. Rm 12,2).
III. ĐỐI THOẠI TRONG THÁNH THẦN: TRONG DÒNG CHẢY THÁNH TRUYỀN
1. Một ký ức sống động được phân định nhờ đối thoại trong Thánh Thần:
1.1. Thánh truyền: một cuộc “đối thoại trong Thánh Thần” liên lỉ giữa lòng Hội Thánh:
Tiên vàn cần ghi nhận chân lý nền tảng này: Thánh Truyền của Hội Thánh không được hình thành như một kho lưu trữ khép kín các công thức đức tin, các tín biểu, tín điều… nhưng như một ký ức sống động, một cảm thức đức tin (sensus fidei) được Hội Thánh gìn giữ, suy tư, diễn giải và phân định trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Điều này hàm chứa một yếu tố thiết yếu: đối thoại – không phải đối thoại với thế gian theo nghĩa thỏa hiệp, nhưng là đối thoại nội tại trong Hội Thánh để nhận ra điều Chúa Thánh Thần đang khơi gợi và hướng dẫn.
1.2. Đối thoại trong Thánh Thần và dấu chỉ tiên khởi: Công đồng Giêrusalem:
Như sách Công vụ Tông đồ minh chứng: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định…” (Cv 15,28), Hội Thánh sơ khai đã lựa chọn con đường “Đối thoại trong Thánh Thần” để thiết kế nền tảng cho một Hội Thánh hiệp nhất và truyền giáo tiến về phía trước.
Trước một “nan đề mục vụ” chưa từng xảy ra trong truyền thống Do Thái – việc đón nhận dân ngoại không qua cắt bì – Hội Thánh đã không áp dụng máy móc hay phủ nhận sạch trơn truyền thống cũ nhưng đối thoại trong Thánh Thần: lắng nghe kinh nghiệm truyền giáo của Phaolô và Barnaba, lắng nghe chứng từ của Phêrô, suy niệm Kinh Thánh dưới ánh sáng của Giacôbê, và cuối cùng đưa ra quyết định trong xác tín: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định”.
Trong “sự kiện mục vụ mang tầm mức Giáo Hội học” này, chúng ta có thể nhận ra: Truyền thống có từ thời Cựu ước không bị đứt gãy với Hội Thánh Chúa Kitô, nhưng được đào sâu và mở rộng, nhờ một tiến trình đối thoại mang tính thiêng liêng và cộng đoàn.
2. Đối thoại trong Thánh Thần để bảo vệ và khai triển đức tin: các Công đồng đầu tiên:
Ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, lịch sử đã minh chứng rằng: Giáo Hội thời đầu không xây dựng hiệp thông bằng kỹ thuật hay cơ chế, nhưng bằng việc cùng nhau lắng nghe Thánh Thần trong cầu nguyện, đối thoại và phân định. Chính vị Thánh Giáo phụ La tinh đầu tiên, Irênê thành Lyon (+ 202)[5], đã nhận xét cách chuẩn xác: “Ở đâu có Giáo Hội, ở đó có Thánh Thần của Thiên Chúa; và ở đâu có Thánh Thần của Thiên Chúa, ở đó có Giáo Hội và mọi ân sủng.” (Adversus Haereses, III, 24,1).
2.1. Đối thoại trong Thánh Thần nơi các Công đồng chung khai sinh các tín điều cơ bản:
Khi tìm về kho tàng đức tin của Hội Thánh (Depositum fidei), điều đầu tiên chúng ta xác tín đó là: chân lý đức tin về Thiên Chúa (qua các tín điều cơ bản như Kitô học và Ba Ngôi) không ra đời từ sự áp đặt đơn phương (Đức Giáo hoàng, Tòa Thánh…), nhưng từ những cuộc đối thoại, có lúc thật gay gắt, kéo dài và đầy tinh thần cầu nguyện giữa các Giám mục, các trường phái thần học và cảm thức đức tin của các Giáo Hội địa phương. Chính Thánh Giáo phụ Hy Lạp, Basiliô[6] (+ 379) đã để lại một tuyên bố thời danh: “Chúng ta chỉ có thể nói đúng về Thiên Chúa nếu trước hết biết thinh lặng trước mầu nhiệm của Người.” (De Spiritu Sancto, 9).
2.2. Công đồng Nicêa (325): gìn giữ đức tin Tông truyền và trung thành với mạc khải:
Khi đối diện với “bè rối Ariô”, Hội Thánh đã không đơn giản lặp lại các công thức Kinh Thánh, nhưng trong đối thoại, đã tìm ra ngôn ngữ thần học mới (“đồng bản thể – homoousios”) để trung thành với mạc khải. Đây là một hành vi đối thoại trong Thánh Thần để diễn tả đức tin Tông truyền bằng cách diễn đạt mới.
2.3. Công đồng Chalcédon (451): Duy trì và củng cố sự hiệp nhất Giáo Hội (giữa Đông và Tây):
Khi chuẩn nhận công thức “một Ngôi vị, hai bản tính”, Công đồng không phải bằng sự thỏa hiệp chính trị, nhưng qua tiến trình phân định kéo dài, trong đó Hội Thánh lắng nghe các truyền thống thần học khác nhau của Đông và Tây phương. Đối thoại trong Thánh Thần ở đây trở thành con đường dẫn tới hiệp nhất trong chân lý, chứ không phải sự đồng nhất qua áp đặt cưỡng bách.
3. Các Giáo phụ: đối thoại giữa đức tin được lãnh nhận và kinh nghiệm sống:
Thánh Truyền còn được thể hiện nơi các Giáo phụ, những người vừa trung thành với đức tin Tông truyền, vừa dấn thân đối thoại với triết học, văn hóa và cả với các lập trường thần học của các lạc giáo đương thời. Ở đây, đối thoại trong Thánh Thần không làm suy yếu Thánh Truyền, nhưng giúp Thánh Truyền đi vào chiều sâu nhân sinh, trở nên khả tín và sinh động đối với con người của từng thời đại.
Sau đây xin đơn cử một vài gương mặt Giáo phụ tiêu biểu mà các cảm nghiệm đức tin và suy tư thần học mang đậm dấu ấn của một cuộc “đối thoại trong Thánh Thần”.
3.1. Thánh Giáo phụ Augustinô[7]:
Các tác phẩm của ngài[8] cho thấy một tiến trình đối thoại không ngừng: đối thoại với chính mình, với các trào lưu tư tưởng đương thời, với cộng đoàn Hội Thánh, và nhất là với Lời Chúa trong cầu nguyện.Trong tác phẩm “Tự thuật” (Confessions), thánh nhân đã để lại những lời, có thể nói được, phản ảnh tinh thần “đối thoại trong Thánh Thần” đậm nét:
“Con đã yêu Người thật muộn màng, ôi Vẻ Đẹp rất cổ xưa và rất mới mẻ, con đã yêu Người thật muộn. Mà kìa, Người vẫn trong con, còn con lại ở bên ngoài. Với tâm hồn lầm lạc con tưởng tìm kiếm Người nhưng lại lăn xả vào những vẻ đẹp do tay Người tác tạo. Người ở bên con, còn con lại không ở với Người. Chính những thụ tạo, mà nếu không hiện hữu ở trong Người thì đã không bao giờ hiện hữu, đã cầm giữ con xa khỏi Chúa. Người đã kêu gọi, gào thét và đã xuyên thủng sự điếc lác của con. Người đã chói rạng, đã sáng lòa rực rỡ, xua tan sự mù lòa của con. Người đã tỏa ngát hương thơm, và con đã hít lấy và khát vọng về Người. Con đã thưởng nếm và cảm thấy đói, khát. Người đã chạm tới con và con khát khao như thiêu đốt niềm bình an của Người” (Confessions, X.27,28 – 28,39)[9].
3.2. Các Giáo phụ khác lần lượt nhấn mạnh về vai trò của Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn và tác động trên những quyết định quan trọng của Giáo Hội, về sự cần thiết của im lặng nội tâm để cầu nguyện và lắng nghe:
– Thánh Gioan Kim Khẩu: “Họ không nói: ‘chúng tôi đã quyết định’, nhưng: ‘Thánh Thần và chúng tôi’, để dạy rằng mọi quyết định của Giáo Hội phải khởi đi từ Thánh Thần.” (Homiliae in Acta Apostolorum, 33).
– Thánh Athanasio: “Chân lý không được xác lập bởi số đông, nhưng được nhận ra nhờ ánh sáng của Thánh Thần.” (Epistula ad Afros, 2).
4. Cảm thức đức tin của Dân Thiên Chúa: đối thoại âm thầm trong lòng Hội Thánh:
Một minh chứng quan trọng khác là cảm thức đức tin của toàn thể Dân Chúa (sensus fidei fidelium). Trong lịch sử, nhiều chân lý đức tin đã được chuẩn bị và làm chín muồi qua đời sống cầu nguyện, phụng vụ và lòng đạo đức bình dân, trước khi được Huấn quyền chính thức xác nhận.
Việc Giáo Hội tuyên tín tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854) hay Đức Maria Hồn xác về trời (1950) không đi ngoài “cảm thức đức tin” của Dân Chúa muôn nơi muôn thuở. Phải chăng, nhờ cuộc đối thoại trong Thánh Thần trải qua qua nhiều thế kỷ, trong đó Huấn quyền lắng nghe tiếng nói của Dân Chúa, còn Dân Chúa được Huấn quyền hướng dẫn và phân định, mà các tín điều trên được hình thành và công bố.
5. Công đồng Vaticanô II: đối thoại trong Thánh Thần với Truyền thống và thời đại:
Công đồng Vaticanô II là một thuyết minh sinh động về đối thoại trong Thánh Thần trong dòng chảy Thánh Truyền. Công đồng đã trân trọng di sản các Công đồng trước, đối thoại sâu xa với Truyền thống, đồng thời đối thoại với những khát vọng và thách đố của thế giới hiện đại.
Các văn kiện như Dei Verbum, Lumen Gentium, Gaudium et spes, Ad gentes… cho thấy Thánh Truyền được hiểu như một thực tại sống động, trong đó Hội Thánh không chỉ “bảo tồn” đức tin, mà còn “đọc các dấu chỉ thời đại” dưới ánh sáng Tin mừng. Đối thoại trong Thánh Thần ở đây trở thành động lực canh tân, nhưng là canh tân trong trung thành.
“Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như trong đền thờ (x. 1 Cr 3,16; 6,19). Ngài cầu nguyện trong họ và chứng thực họ là nghĩa tử (x. Gl 4,6; Rm 8,15-16.26). Ngài dẫn Giáo Hội đến sự thật toàn vẹn (x. Ga 16,13), và hợp nhất Giáo Hội trong sự hiệp thông và trong tác vụ, Ngài xây dựng và hướng dẫn Giáo Hội với nhiều hiện sủng và đoàn sủng khác nhau, Ngài trang điểm Giáo Hội bằng các hoa quả của Ngài (x. Ep 4,11-12; 1 Cr 12,4; Gl 5,22)” (LG 4).
“Thật vậy, nhờ cảm thức đức tin do chính Thánh Thần Chân lý khơi dậy và nâng đỡ, khi tuân phục theo sự hướng dẫn của Huấn Quyền Giáo Hội, Dân Thiên Chúa đón nhận không phải lời của người phàm, nhưng thực sự là Lời của Thiên Chúa (x. 1 Ts 2,13), trung thành gắn bó với đức tin đã được truyền lại cho các thánh chỉ một lần là đủ (x. Gđ 1,3), thấu hiểu cách sâu xa hơn với một nhận thức chính xác và thực thi đức tin cách hoàn hảo hơn trong đời sống hằng ngày.” (LG 12)
6. Tiến trình hiệp hành hôm nay: tiếp nối dòng chảy của Thánh Truyền:
Tiến trình hiệp hành mà Hội Thánh vừa mở ra với Thượng Hội đồng Giám mục thế giới XVI và đang được “làm cho dậy men” (Implementation phase) giữa lòng cuộc sống hôm nay chính là sự tiếp nối liền lạc dòng chảy của Thánh Truyền. Phương pháp “Đối thoại trong Thánh Thần” được đề nghị như một cách thế cụ thể để Hội Thánh sống điều mà Hội Thánh vẫn luôn sống: cùng nhau lắng nghe Thánh Thần, phân định và bước đi. Văn kiện Chung kết đã trân trọng lưu ý: “Trước tiên, cần bắt đầu bằng việc áp dụng phương pháp làm việc hiệp hành. Phương pháp đối thoại trong Thánh Thần, với những điều chỉnh thích hợp, có thể tạo nên một điểm tham chiếu” (VKCK 105).
Như thế, đối thoại trong Thánh Thần không phải là một khám phá mới, một phát minh lạ của Giáo Hội trong thế kỷ XXI; và dĩ nhiên cũng không là “đặc sản” của Thượng Hội đồng Giám mục thứ XVI… Thật ra, phương pháp “đối thoại trong Thánh Thần” chính là một lựa chọn, một phong cách, một phương thế truyền thống giúp Dân Chúa củng cố, gìn giữ và thông truyền đức tin xuyên suốt qua dòng lịch sử nhưng được Hội Thánh nhấn mạnh và tô điểm để thuyết phục thực hành và canh tân đáp ứng hiện tình mục vụ hôm nay.
IV. ĐỐI THOẠI TRONG THÁNH THẦN: ỨNG DỤNG MỤC VỤ
Những gì vừa nói ở trên là những gợi ý để chúng ta cùng “hiểu” phương pháp “Đối thoại trong Thánh Thần” là gì. Sau đây sẽ là những gợi ý để ứng dụng phương pháp này vào nhịp sống mục vụ.
Trước hết, cần nắm bắt hay nhớ lại những điểm nhấn cốt yếu của phương pháp “đối thoại trong thánh Thần”, tiếp đó là nhận diện hiện tình Giáo Hội để sau cùng ứng dụng phương pháp đối thoại trong Thánh Thần vào các lãnh vực mục vụ.
1. Những điểm cốt yếu trong thực hành phương pháp “Đối thoại trong Thánh Thần”
1.1. Xác định tiêu đích của phương pháp:
– Là một tiến trình cộng đoàn.
– Lắng nghe (Lời Chúa, Huấn quyền…) trong thinh lặng.
– Chia sẻ từ kinh nghiệm và cảm nhận đức tin.
– Phân định chung dưới ánh sáng Thánh Thần trong đức ái.
– Xây dựng sự hiệp nhất trong đa dạng với lòng vâng phục và khiêm hạ.
1.2. Những nguyên tắc cốt lõi không được rời xa:
– Cầu nguyện là khởi điểm và nền tảng.
– Không tranh luận, phản biện để áp đặt hay hơn thua.
– Cùng nhau tìm ý Chúa là trên hết.
– Mọi tiếng nói đều được tôn trọng.
1.3. Các bước căn bản khi thực hành:
(Xem bài giới thiệu PHƯƠNG PHÁP ĐỐI THOẠI TRONG THÁNH THẦN của Đức cha Giuse Nguyễn Mạnh Hùng, Giám mục Phan Thiết và Ban Truyền thông Giáo phận Phan Thiết trên trang mạng của HĐGMVN)[10].
2. Nhận diện hiện tình Giáo Hội tại Việt Nam trong viễn tượng “Thế tục hóa”.
2.1. Hiện tượng “thế tục hóa” tiêu cực đó là gì?
Trước hết, hiện tượng “Thế tục hóa” (Secularism) hoàn toàn khác với tính “thế tục” (secularity) là một chiều kích thiết yếu của mầu nhiệm Nhập Thể làm nên căn tính của Giáo Hội (Giáo Hội hiện diện giữa đời, nhập thể vào văn hóa, xã hội, lịch sử con người…), như Công đồng Vaticanô II xác định trong Hiến chế tín lý Lumen Gentium:
“Giáo Hội vừa là cộng đồng được tổ chức theo cơ chế phẩm trật, vừa là Nhiệm Thể Đức Kitô, là đoàn thể hữu hình và cũng là cộng đoàn thiêng liêng, là Giáo Hội tại thế đồng thời cũng là Giáo Hội dư tràn của cải trên trời, dù vậy, không được nhìn Giáo Hội như hai thực thể, nhưng đúng hơn, tất cả chỉ làm nên một thực tại đa phức, được kết thành từ yếu tố nhân loại và thần linh. Vì thế, theo cách thức loại suy vẫn được công nhận, Giáo Hội được sánh ví với mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể.” (LG 8).
Phạm trù “Thế tục hóa” mà chúng ta đang nói tới chính là một hiện tượng tiêu cực, một não trạng loại trừ hoặc làm mờ nhạt chiều kích thiêng liêng, siêu việt, đặt con người, hiệu quả, quyền lực, tiện nghi trần thế… làm chuẩn mực tối hậu.
Đức Thánh Cha Phanxicô, trong tông huấn “Niềm vui của Tin mừng” (Evangelii Gaudium), gọi dạng nguy hiểm nhất của hiện tượng này là “thế tục hóa thiêng liêng”:
Núp dưới dáng vẻ của lòng đạo đức và thậm chí lòng yêu đối với Hội Thánh, tính thế tục thiêng liêng hệ tại việc không tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa mà là tìm vinh quang loài người và sự thoả mãn của bản thân. Đó là điều Chúa mắng những người Biệt Phái: “Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin?” (Ga 5:44). Đây là một cách tinh vi để tìm “lợi ích cho riêng mình chứ không phải tìm lợi ích cho Đức Giêsu Kitô” (Pl 2:21). Hành động này có nhiều hình thức tuỳ theo mỗi loại người hay nhóm người mà nó ngấm vào. Vì nó dựa trên những vẻ bề ngoài được trau chuốt cẩn thận, bề ngoài nó không có vẻ gì là tội lội; từ ngoài nhìn vào, mọi sự đều nghiêm túc. Nhưng nếu nó ngấm vào Hội Thánh, “nó sẽ vô vàn tai hại hơn bất cứ thái độ thế tục nào chỉ mang tính chất đạo đức” (EG 93).
2.2. Nhận diện một số những biểu hiện “thế tục hóa” hiện nay trong đời sống Giáo Hội tại Việt Nam:
Thoạt nhìn bên ngoài, Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam nói được là rất mạnh mẽ, ổn định, phát triển: nhà thờ nào ngày Chúa Nhật cũng đầy ắp tín hữu; các Mùa Chay, Vọng, Tết… Tòa Giải tội luôn chật cứng người đi xưng tội và số người chịu lễ rất đông…; các hội đoàn sinh hoạt nhiệt tình; ơn gọi linh mục và tu sĩ không thiếu…
Tuy nhiên, những “dấu chỉ phồn thịnh” đó đâu phải là “virus kháng sinh” để Giáo Hội “miễn nhiễm” trước những cám dỗ “phản Tin mừng”, cám dỗ chọn “tinh thần thế tục”. Trái lại, có khi chính những “thành công mục vụ”, những “bề ngoài sung túc” đó lại là môi trường thuận lợi cho tính “thế tục hóa” nẫy sinh? Sau đây có thể “điểm mặt” những biểu hiện “thế tục hóa” của Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam hôm nay:
2.2.1. Lối sống đạo nói chung: “Kitô hữu nửa mùa”[11]:
– Thực hành đạo mang tính “đường mòn”, hình thức, giữ luật hơn là hoán cải theo Lời Chúa.
– Não trạng “vụ lợi” trong cầu nguyện, xin lễ…, thiếu chiều kích tôn vinh, cảm tạ, phó thác…
– Chọn lối sống đạo “an toàn”, không gây xáo trộn hay đòi hỏi hy sinh, dấn thân, cống hiến…
2.2.2. Trong sinh hoạt cộng đoàn:
– Cộng đoàn và mô hình giáo xứ: Thích đua đòi, tìm cái phô trương hình thức (cơ sở vật chất, sự kiện…);
– Cộng đoàn và vận hành mục vụ: như một tổ chức xã hội (Đánh giá thành công mục vụ bằng con số, dự án, và hình ảnh truyền thông…) nhưng thiếu sức sống thiêng liêng.
– Cộng đoàn và thực hành phụng vụ: “sân khấu hóa” phụng vụ (diễn nguyện, dâng hoa, rước xách…); các dịp đại lễ Giáng Sinh, Kỷ niệm (Chịu chức, Khấn Dòng, Hôn phối, xây dựng nhà thờ, thành lập giáo xứ…), lễ Tang, Đám cưới… ồn ào, náo nhiệt mang tính “quảng cáo hóa” đức tin nhưng thiếu chiều sâu yên lặng, gặp gỡ, nội tâm …
– Cộng đoàn và thực hành giáo lý: giáo lý chưa gắn liền với việc sống đạo (thiếu nhi học giáo lý xong vô nhà thờ nghịch như quỷ; các dự tòng, lớp tiền hôn nhân… học giáo lý để hoàn tất thủ tục cưới hỏi…). Chỉ dạy “kiến thức giáo lý” mà thiếu việc truyền lửa đức tin…
– Cộng đoàn và sứ vụ: loanh quanh việc “dưỡng giáo” không có lửa truyền giáo, đi ra…
2.2.3. Trong lãnh vực linh mục, tu sĩ, ơn gọi:
– Trong lối sống: thích lối sống trung lưu, tiện nghi; thể hiện đẳng cấp, cái tôi…
– Trong mục vụ: bận rộn (xây dựng, tổ chức hội đoàn…) thiếu đời sống cầu nguyện cá nhân.
– Trong chứng tá: ngại đụng chạm, thập giá, sự thật… trong bối cảnh xã hội phức tạp.
– Trong giáo dục đào tạo, chọn người: đề cao học vấn, kỹ năng, hiệu quả mục vụ… Ít nhấn mạnh đến sự trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, khổ chế nội tâm. Sự thánh thiện thầm lặng ít được nhìn nhận như một tiêu chuẩn căn bản.
3. Đề nghị ứng dụng phương pháp “Đối thoại trong Thánh Thần” vào mục vụ:
3.1. Xây dựng lối sống đạo và cộng đoàn trên nền tảng cầu nguyện:
– Củng cố nhịp sống phụng vụ: Thánh lễ là nơi huấn luyện cầu nguyện, gặp gỡ Chúa và sống hiệp hành trọn hảo nhất (loại trừ các biểu hiện “thế tục hóa” phụng vụ…).
– Cương quyết chọn lựa “đối thoại trong Thánh Thần” (yên lặng, cầu nguyện, lắng nghe, chia sẻ… thay vì ồn ào, náo nhiệt, phô trương trong các sinh hoạt cộng đồng…).
3.2. Trong huấn giáo & đào tạo đức tin:
– Giáo lý có yếu tố: Lắng nghe Lời Chúa, chia sẻ đời sống, thinh lặng nội tâm…
– Giúp học viên giáo lý (thiếu nhi, giới trẻ, dự tòng, hôn nhân…) trưởng thành trong đức tin, thực hành sống đạo (phụng vụ, chứng tá, bác ái…) không chỉ học kiến thức…
– Kết hợp và vận dụng các phương pháp: Lectio divina, Xem-xét- làm, Đối thoại trong Thánh Thần trong công tác huấn luyện và đào tạo.
3.3. Trong hội đoàn – phong trào:
– Hội họp, gặp gỡ trong tinh thần cầu nguyện (theo linh đạo riêng…).
– Phân định chương trình hoạt động dưới ánh sáng Lời Chúa và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần (Không độc tài áp đặt; dùng số đông để biểu quyết áp đảo…).
3. 4. Trong huấn luyện nhân sự mục vụ: giáo lý viên, huynh trưởng…:
– Đào tạo người lãnh đạo theo tinh thần: khiêm tốn, biết lắng nghe.
– Đào tạo nhân cách thiêng liêng, con người nội tâm, thấm nhuần Lời Chúa…
– Đào tạo kỹ năng lắng nghe sâu, nắm vững phương pháp “đối thoại trong Thánh Thần”.
– Đào tạo con người hiệp hành: Làm việc chung, biết phân định, trách nhiệm sứ vụ…
3.5. Trong tĩnh huấn – đào tạo Hội đồng mục vụ:
– Lập kế hoạch mục vụ trong định hướng hiệp hành và với phương pháp đối thoại trong Thánh Thần (thay vì chọn con đường dễ dãi “xưa bày nay làm”…)
– Giải quyết các xung đột trong các mối tương quan: mục tử – đoàn chiên; bề trên – bề dưới; các hội đoàn; các phần tử đặc biệt (rối hôn phối, dự tòng, tân tòng, vùng miền…).
– Giúp Hội đồng trở thành cộng đoàn hiệp hành, biết phân định, không chỉ là cơ cấu hành chính…
3.6. Để ứng dụng trong môi trường ơn gọi linh mục, tu sĩ:
– Nhấn mạnh việc đào tạo đời sống thiêng liêng, nội tâm, con người cầu nguyện (thực hành phương pháp “đối thoại trong Thánh Thần” ngay trong sinh hoạt huấn luyện, đào tạo)…
– Các tu sĩ: tích cực trở về với các chiều kích linh đạo riêng; đặc biệt thực hành “đặc sủng” riêng của Hội Dòng liên quan đến phương thế “đối thoại trong Thánh Thần:
– Linh đạo Biển Đức: Lắng nghe để vâng phục (Ausculta).
– Ngôi Lời: Lectio divina (Lắng nghe Lời Chúa).
– Linh đạo Xitô”: Capitulum Conventuale (giờ “Chương tập”: đọc Lời Chúa, Luật…)
– Linh đạo Dòng Tên: Linh thao (Exercitia Spiritualia).
– Đa Minh: chiệm niệm và trao ban (Contemplare et contemplata aliis tradere).
– Cát Minh (Ocarm): Thân mật với Thiên Chúa trong cầu nguyện và thinh lặng.
– Mến Thánh Giá: Ở lại với Chúa Giêsu chịu đóng đinh…
– Don Bosco: Chiêm niệm giữa hành động…
3.7. Khắc phục những tệ nạn (thế tục hóa thiêng liêng):
– Xem thường việc cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa.
– Thói quen tranh luận, áp đặt…
– Thái độ độc đoán, nóng vội, thực dụng…
– Tâm thức “tiện dụng”, hiệu quả tức thời, kỹ thuật tiên tiến…
Kết: Đây chính là “sự chọn lựa tốt nhất”
Trong Văn kiện Chung kết, Thượng Hội đồng Giám mục XVI đã dành 4 số từ 43-46 để quảng diễn về “Linh dạo Hiệp hành” mà phương pháp cốt yếu đó là “Đối thoại trong Thánh Thần”; và Thượng Hội đồng xác tín rằng: đây chính là lựa chọn, là con đường để “chữa lành, hòa giải và xây dựng lại sự tin tưởng trong Giáo Hội và trong xã hội”:
“Ở mọi giai đoạn của tiến trình Thượng Hội đồng đều có âm vang nhu cầu chữa lành, hòa giải và xây dựng lại sự tin tưởng trong Giáo hội và trong xã hội, nhất là sau quá nhiều vụ bê bối liên quan đến các loại lạm dụng khác nhau. Giáo hội được mời gọi đặt vào trung tâm đời sống và hoạt động của mình sự thật rằng trong Chúa Kitô và qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được ủy thác cho nhau. Nhận thức thực tế sâu sắc này trở thành một nghĩa vụ thiêng liêng cho phép chúng ta nhận ra sai lầm và xây dựng lại niềm tin. Bước đi trên lộ trình này là một hành động công lý, một sự dấn thân truyền giáo của Dân Thiên Chúa trong thế giới của chúng ta, và cũng là một hồng ân mà chúng ta phải cầu xin. Khát vọng tiếp tục bước đi trên lộ trình này là thành quả của cuộc canh tân có tính hiệp hành.” (VKCK số 46).
Riêng Hội Đồng Giám mục Việt Nam, trong Thư Chung tháng 10.2025, đã ân cần mời gọi các thành phân Dân Chúa trong Giáo Hội Việt Nam nỗ lực thực thi phương pháp “Đối thoại trong Thánh Thần” như “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt qua mọi giai đoạn hiệp hành trong hành trình đức tin của Dân Chúa Việt Nam:
“Đối thoại trong Thánh Thần” là phương pháp được Thượng hội đồng Giám mục áp dụng thường xuyên trong các kỳ họp và mang lại những thành quả tích cực. Các linh mục và tu sĩ nên học hỏi và áp dụng phương pháp này trong việc đồng hành với giáo dân, cùng nhau lắng nghe Lời Chúa, củng cố sự hiệp thông, và thúc đẩy mọi người tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.” (Thư Chung tháng 10.2025).
Thiết tưởng, để mỗi người trở nên một “môn đệ thừa sai”, thì nhịp bước đầu tiên trong hành trình thiêng liêng cũng như mục vụ, đó là cùng nhau thinh lặng, quỳ xuống để “đối thoại trong Thánh Thần”. Bởi vì, nói cho cùng, đây chính là “sự chọn lựa tốt nhất” (Lc 10,42).
Trương Đình Hiền (23.01.2026)
[1] Đây là văn kiện pháp lý–Giáo hội học quan trọng được Đức Giáo hoàng Phanxicô ban hành ngày 15.9.2018, đặt nền cho tiến trình Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế giới XVI nhằm canh tân và quy định lại Thượng Hội Đồng Giám Mục trong viễn tượng Giáo Hội hiệp hành.
[2] X. VĂN KIỆN CHUNG KẾT, Phụ lục 1, Diễn văn Khai mạc Đại hội ngày 02.10.2024 của ĐGH Phanxicô: “Tông hiến Episcopalis communio có ý định xây dựng dựa trên kinh nghiệm của nhiều Đại hội Thượng Hội đồng khác nhau (Thường lệ, Ngoại lệ, và Đặc biệt) bằng cách trình bày rõ ràng Đại hội Thượng Hội đồng như một tiến trình chứ không chỉ đơn thuần là một sự kiện mà thôi”.
[3] VĂN KIỆN CHUNG KẾT (VKCK) đã được toàn thể Thượng Hội Đồng XVI biểu quyết và phê chuẩn, được Đức Giáo hoàng Phanxicô ấn ký phê duyệt và ban hành vào dịp bế mạc Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục XVI ngày 26.10.2024. Đây được coi như “Văn kiện Hậu Thượng Hội đồng Giám mục XVI. (x. Ghi chú của ĐTC Phanxicô đi kèm VKCK).
[4] X. EPISCOPALIS COMMUNIO, SỐ 10, MỤC 4: Tông hiến “Episcopalis communio” đã quy định Thượng Hội đồng phải trải qua tiến trình với 3 giai đoạn (phases): chuẩn bị (Prepatory phase); thảo luận (Discussion phase); thực thi (Imphementation phase).
[5] X. JACQUES LIÉBAERT, Giáo Phụ Tập 1, Thế kỷ I-IV, Athanase Nguyễn Quốc Lâm và nhóm dịch thuật Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn, dịch, Nxb Tôn giáo 2023, tr. 81-88.
[6] SĐD, Tập 2, Thế kỷ IV – VIII, tr. 23-48.
[7] SĐD, Tập 2, Thế kỷ IV – VIII, tr. 339-410.
[8] Thánh Giáo phụ Augustinô biên soạn nhiều tác phẩm: Chống phải hoài nghi (Contre les académitiens), Tôn giáo đich thực (De la vraie religion), Sự hữu ích của đức tin (L’ utilité de croire), Về Ba Ngôi (De la Trinité) … Tuy nhiên, có hai tác phẩm được đánh giá là tuyệt tác đó là Tự Thuật (Confessions) và Thành đô Thiên Chúa (Cité de Dieu).
[9] JACQUES LIÉBAERT, Giáo Phụ, sđd, Tập 2, Thế kỷ IV – VIII, tr. 410.
[10] X. Website HĐGMVN, link “GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP “ĐỐI THOẠI TRONG THÁNH THẦN”.
[11] ĐGH LÊÔ XIV, Bài Huấn dụ Kinh Truyền Tin ngày 6.7.2025: “Có lẽ không thiếu những ‘Kitô hữu nửa mùa thỉnh thoảng làm theo cảm xúc tôn giáo hoặc tham dự những sự kiện tôn giáo. Nhưng rất ít người sẵn sàng làm việc cho mùa gặt của Chúa, vun trồng hạt giống Tin mừng trong chính tâm hồn mình để rồi chia sẻ điều đó trong gia đình họ, tại nơi họ làm việc hay học tập, trong môi trường xã hội và với những người cần được giúp đỡ”. (x. Thư Chung HĐGMVN, tháng 10.2025, số 7).


