Views: 2
(Chúa Nhật 5 TN A 2026)
Trọng tâm của sứ điệp phụng vụ Chúa Nhật 5 thường niêm, chu kỳ Năm A, đó chính là lời xác quyết về căn tính Kitô hữu của chính Đức Kitô: Các con là muối ướp đời… các con là ánh sáng cho trần gian!
Những lời xác quyết trên của Đức Kitô tiếp nối liền sau bài giảng về “Tám mối phúc thật” của Ngài (Tin mừng CN vừa qua) như một ấn chứng rằng: khi thực hành con đường Tám mối phúc thật, chắc chắn người Kitô hữu sẽ trở thành “muối ướp đời… ánh sáng thế gian”; và dĩ nhiên, ai đi ngược lại hoặc không sống đúng những gì “Tám mối phúc thật” đề xuất sẽ trở nên “muối lạt… đèn tắt!”.
Thế nhưng, chúng ta cần hiểu rằng: trong ngôn ngữ của Chúa Giêsu cách đây 2000 năm, hình ảnh hay chất liệu “muối”, “ánh sáng” chỉ là “biểu tượng” cho một lối sống mang hương vị Tin mừng, lối sống thể hiện hay làm chứng cho những giá trị “Tám mối phúc thật”: khó nghèo, hiền lạnh, trong sạch, khao khát chính trực, biết xót thương, đón nhận khổ giá bách hại… Đây cũng chính là “lối sống” hay “cụ thể hóa” việc tuân giữ Lề Luật và Giao ước mà từ thuở trước thời Chúa Giêsu, các ngôn sứ đã loan báo, gọi mời; như trích đoạn của sách Isaia mà chúng ta nghe qua Bài đọc 1: “Hãy chia bánh của ngươi cho kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở; nếu ngươi gặp một người trần truồng, hãy cho họ mặc đồ vào, và đừng khinh bỉ xác thịt của ngươi. Như thế, … vinh quang của Chúa sẽ hậu thuẫn cho ngươi. Nếu ngươi loại bỏ khỏi ngươi xiềng xích, cử chỉ hăm doạ, lời nói xấu xa, khi ngươi hy sinh cho người đói rách, và làm cho những người đau khổ được vui thích, thì ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối, và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày”.
Sống được như thế, trung thành thực thi những lời tiên tri như thế thì còn gì bằng! Tuy nhiên, thời Chúa Giêsu, và ngay cả ngày hôm nay, con người thích quay về “bóng tối” thay vì chấp nhận bước trên lộ trình ánh sáng; thích thuộc về những rỗ cá ươn tự mình nằm ì một chỗ thay vì chấp nhận bị muối ướp để trở nên hữu dụng cho đời.
Chính trong hoàn cảnh “mạt pháp” đó, Chúa Giêsu người Nadarét đã đến làm một cuộc “đại canh tân” tôn giáo. Tuy nhiên, Ngài không đến để “tái cấu trúc” một “Do thái giáo” đã mục ruỗng, lỗi thời mà để xây dựng một “Vương quốc Nước Trời” dành cho muôn dân tộc với mọi chân trời góc biển mà “Bản Hiến Chương Bát Phúc” với những áp dụng thực hành cụ thể: “Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại?… Các con là sự sáng thế gian… Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”.
Và lịch sử đã làm chứng, Kitô giáo đã chinh phục cả đế quốc Rôma sau gần 300 năm bị bách hại tàn khốc, và Tin mừng Chúa Giêsu đã lan rộng khắp hoàn cầu, chắc chắn không phải bằng lối sống của những Kitô hữu “Mắt trũng sâu, má hóp xanh xao, ngực lép xẹp…”[1], mà phải là cuộc sống mang dáng đứng của “muối mặn ướp đời”, hay “ánh sáng thế gian”.
Và đó chính con đường chinh phục thế giới của người Kitô hữu, một phương cách loan báo Tin mừng không dựa trên “sự khôn ngoan trần tục” nhưng là sự chọn lựa chính “Chúa Giêsu” và sự khôn ngoan của “Thập giá”, của “quyền năng Thiên Chúa”, như thánh Phaolô, nhà truyền giáo vĩ đại muôn đời của Kitô giáo đã xác tín: “tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh em, ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Phần tôi,… lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rũ của sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào sự giãi bày của thần trí và quyền năng, để đức tin của anh em không dựa vào sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa” (Bđ 2).
Vâng, đáp lại tiếng gọi mời và sự chọn lựa “muối, ánh sáng” của Chúa Giêsu, những Kitô hữu đã dấn thân vào đời để cải tạo thế giới. Cho dù ngay từ đầu, chỉ là những “hạt muối”, “viên men”, hay “chút ánh sáng le lói” của Tin mừng, đã bị Đạo Do Thái khai trừ, đã bị đế quốc Rôma đặt ra ngoài vòng pháp luật suốt gần ba thế kỷ, bị dè bỉu khinh khi như một thứ rác rưởi cùng với những cuộc bách hại khủng khiếp,… nhưng “muối” và “ánh sáng” ấy đã từ từ biến đổi một nền văn hóa đồi trụy bất công của đế quốc thành một nền văn hóa nhân văn bình đẳng; biến một thứ tôn giáo “đa thần” đầy mê tín dị đoan, lầm lạc trở nên một tín ngưỡng, một niềm tin chính chuyên, siêu thoát… Và rồi sau những ngàn năm kế tiếp, Tin mừng đó tiếp tục hóa thân trong những viên muối mặn giản đơn hay chiếu sáng qua những con người nhỏ bé như Phanxicô thành Assisi, như Phanxicô Xavie, Têrêxa hài Đồng, Mẹ Á Thánh Têrêxa thành Calcutta, Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Anrê Phú Yên, hay vị thánh trẻ Acutis, vị thánh của công nghệ internet, mà Giáo Hội vừa phong thánh trong năm vừa qua … để biến họ trở nên những “nhà cách mạng tâm linh”, những thánh nhân sống mãi giữa dòng đời…
Ngày nay, trong môi trường chính trị khắc nghiệt của một xã hội tư bản văn minh và đầy hệ lụy của nạn tự do phóng túng và não trạng hưởng thụ duy vật…, những Kitô hữu là muối và ánh sáng đích thực đó chính là nhưng người như bà mẹ trẻ mang tên Karoline Leavitt, người phụ nữ Phát ngôn viên của Nhà Trắng, là ngài JD. Vance Phó Tổng thống Hoa Kỳ, là ngài Ngoại trưởng Marco Rubio…, những người luôn trung thành bảo vệ đức tin tông truyền và nền luân lý Công Giáo trước những đe dọa thường xuyên của bao nhiêu thế lực duy vật vô thần và trào lưu phản Kitô…
Và có lẽ, hình ảnh “muối” và “ánh sáng” thích hợp nhất khi được gán cho cậu bé người Australia, Austin Appelbee, ngày 30.01.2026 vừa qua, đã bơi suốt 4 tiếng đồng đồ, vượt qua 4 cây số trên vùng biển tối tăm đầy cá mập, chạy thêm 2 cây số trên bộ… để tìm cách liên lạc cứu mẹ và các em đang bị gió cuốn trôi giữa biển… Sở dĩ gán cho em là “muối” và “ánh sáng” chính vì trong suốt thời gian bơi, điều duy nhất em kiên vững đó là “cầu nguyện với Chúa”, là tin tưởng phó thác cho Chúa, và đoan hứa với Chúa là sẽ chịu phép rửa! Chỉ một mẫu gương đó thôi đã làm “dậy men” nhiều tâm hồn, đã lôi kéo nhiều Kitô hữu nguội lạnh, làm kiên vững cho nhiều Kitô hữu thất vọng, buông trôi giữa biển đời cuộc sống…
Ngoài kia Mùa Xuân đang về. Bàn tiệc Thánh Thể hôm nay sẽ đưa chúng ta đi vào cuộc sống đời thường để làm những viên muối ướp mặn và ngọn đèn thắp sáng lên mùa xuân cho cuộc đời, cho thế giới, không phải bằng những lời nói suông, nhưng bằng cuộc sống chứng tá, và bằng trái tim tràn đầy tình yêu thương và phục vụ con người; một cuộc sống đầy thi vị như kiểu so sánh của nữ thi sĩ Madeleine Delbrêl mà Đức cố Giáo hoàng Phanxicô đã trích dẫn trong bài diễn văn bế mạc Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới XVI: vâng, đó là cuộc sống
“như một vũ khúc, một điệu nhảy,
trong vòng tay ân sủng của Chúa,
trong bản hòa tấu phổ quát của tình yêu.”
Trương Đình Hiền
[1] Phát biểu của hoàng đế Julian, một trong những hoàng đế Rôma không theo Kitô giáo kể từ hoàng đế Constantin và người căm ghét Kitô giáo khét tiếng: “Các bạn có nhìn những kitô hữu này không? Mắt trũng sâu, má hóp xanh xao, ngực lép xẹp, họ xua đuổi cuộc sống, không màng danh vọng, mặt trời soi sáng cho họ nhưng họ chẳng thấy, trái đất cung hiến dư dật nhưng họ không ham thích… “.

