CHUYỆN “LẬP QUỐC HOA KỲ VÀ CON CHIM SẺ” CỦA NGÀI FRANKLIN

Views: 1

(Chúa Nhật 6 Phục Sinh – A – 2026)

            Gần 4 thế kỷ trước đây, trên quê hương Việt nam, đã có một một lời chứng tuyệt vời “về niềm hy vọng của người Kitô hữu”: Chàng giáo lý viên trẻ tuổi Anrê Phú Yên, vào buổi chiều ngày 26.07.1644, trên con đường từ Dinh Chiêm đến Gò Xử ở Quảng Nam để chịu tử hình, miệng không ngớt động viên mọi người “lấy tình yêu đáp trả tình yêu, đem mạng sống báo đền mạng sống”, hân hoan đi chịu chết như người chiến thắng đi lãnh phần thưởng vinh quang!

            Phải chăng đó là câu trả lời “chính xác và đầy thuyết phục” cho những ai muốn chất vấn về niềm hy vọng của người Kitô hữu. Chính qua cái chết anh hùng đó, qua thái độ thanh thản vui tươi đón nhận cực hình vì niềm tin vào cuộc phục sinh trong cõi vĩnh hằng đó, Anrê Phú Yên và bao nhiêu chứng nhân anh hùng tử đạo đã thay mặt cho Hội Thánh muôn nơi muôn thuở, thay mặt cho muôn thế hệ Kitô hữu trả lời cho con người hôm qua, hôm nay về niềm hy vọng của mình, về cùng đích và ý nghĩa cuối cùng của sự lựa chọn Đức Kitô và Tin mừng do Ngài mang tới.

            Sứ điệp Lời Chúa hôm nay đang mời gọi chúng ta tiếp nối những lời chứng như thế qua chính lời nhắn gởi của Thánh Phêrô trong BĐ 2: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em”.

Nhưng để có được “lời chứng như thế” trước những chất vấn đầy tính “bách hại” của thế gian, chúng ta cần những yếu tố nầy:

– Tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy: Trước khi rời khỏi thế gian nay để về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Lòng anh em đừng xao xuyến…”.

Trích đoạn Tin mừng ngày hôm nay trình bày bối cảnh (ngày thứ Năm Tuần Thánh) vào cuối bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu và các tông đồ. Quả thật bầu khí của nhóm các môn đệ thật bi thương: Đức Giêsu vừa loan báo sự phản bội của Giuđa và anh ta đã đi ra khỏi căn phòng trong bóng đêm vừa đổ xuống (Gioan 13,21-30). Sau đó, Đức Giêsu bảo rằng Người sẽ ra đi và nơi Người đi, các bạn hữu Người không thể theo được (Gioan 13,31-36)… Sau cùng, trong bầu khí hoang mang lo lắng của các môn sinh, Đức Giêsu báo trước cho Phêrô rằng ông sẽ chối Ngài “ba lần” trong đêm hôm ấy trước khi gà gáy (Gioan 13,37-38).

Qua những sự kiện đó, Tin mừng cho chúng ta biết được sự xao xuyến kinh hoàng  đang vây bọc tâm hồn và tư tưởng các môn đệ.

Cũng thế, trong đời thường cuộc sống của chúng ta luôn có những giờ phút sự sợ hãi xuyến xao ập xuống: một tai nạn bất ngờ ập đến, một căn bệnh nan y không thể chữa khỏi, một tương lai bế tắt, tăm tối đang đến gần…; và còn có những sợ hãi mang tính tập thể: nạn khủng bố, chiến tranh, bạo lực, ô nhiễm môi trường, chết đói, thất nghiệp, những nguy cơ của vũ khí giết người hàng loạt, những căn bệnh thế kỷ: Siđa, Sars, Covid… Đứng trước những thách đố nầy, cả những Kitô hữu trưởng thành và “dạn dày sương gió “nhất cũng lắm lúc phải “xuyến xao”. (Trong những ngày cuối tháng 4 và đầu tháng 5 hàng năm nầy, khi nhìn lại những kỷ niệm về biến cố sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng hòa 51 năm trước (30/4/1975), chắc chắn có rất nhiều người trong chúng ta đã có cái kinh nghiệm thất vọng não nề, chán chường tê tái đó!).

Chính trong bối cảnh đen tối và thê lương đó, ánh sáng hy vọng của Đức Giêsu bùng lên như một ngọn lửa nồng nàn, cháy sáng trong đêm tối! Bởi vì, ngay trước “ngưỡng cửa thập giá, Đức Kitô đã long trọng củng cố niềm tin của các môn sinh: “Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”.

Nhưng để có được niềm tin như thế, để có thể bình thản và lạc quan như thế, để có được những hạt mầm hy vọng vươn lên trên những mảnh đất đời như thế, chúng ta hãy nhớ lời Đức Giêsu nói với chúng ta hôm nay: “Thầy không để anh em mồ côi đâu… Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” .

Chúa Thánh Thần Đấng Bảo Trợ chúng ta:

Kể từ sau biến cố “Ngày Thứ nhất trong tuần khi nhận được hơi thở Thần linh của Đấng Phục Sinh”, nhất là khi chính thức nhận được những “hình lưỡi như lửa đổ xuống trên mình vào dịp đại lễ Ngũ Tuần”, quả thật cuộc đời của các anh dân chài xứ Galilê đã đổi thay tận căn: Không còn “ngồi im đóng cửa ở trong nhà vì sợ người Do Thái”, mà đã tung cửa ra đi khắp bốn phương trời, bất chấp mọi gian nguy thử thách, ngục hình, tù tội và cả cái chết; không còn thất vọng nản lòng quay về nương cũ vườn xưa như hai môn đệ Emmau, nhưng đã hân hoan chạy nhanh về Giêrusalem bất kể đường khuya giá lạnh để thông báo tin vui; hay không còn thối chí trở lại nghề xưa với thuyền với lưới mà đã một lần dứt bỏ ra đi để theo Thầy, nhưng can đảm “chèo thuyền ra tận chỗ nước sâu để buông lưới bắt người”…; hay như chàng Philipphê trong Công vụ Tông đồ tường thuật nơi Bài đọc 1 hôm nay: Trong những ngày ấy, Philipphê đi xuống một thành thuộc sứ Samaria, rao giảng Đức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cũng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm..

Một khi Chúa Thánh Thần đã hành động thì mọi sự được sửa lại từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Nhờ tình yêu mà Chúa Thánh Thần đổ tràn vào lòng chúng ta, biến cuộc sống chúng ta luôn giữ được gam màu hồng của tin yêu, gam màu xanh của hy vọng, trong muôn vạn gam màu tối của gian truân và thử thách, của thất bại đắng cay, của vô ơn bội nghĩa, của đố kỵ bất công… Chính Đức Kitô đã biến “nỗi ô nhục thập giá thành phương thế cứu rỗi con người”, và hôm nay, Thánh Thần cũng sẽ làm cho phương cách ấy của Đức Kitô được tái diễn nơi thập giá cuộc đời của các Kitô hữu, để, như chứng từ bất diệt ngày nào của Thánh Phanxicô khó khăn: Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng. Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu…”.

Và khi có được ngọn lửa Thánh Thần rực sáng trong tim, thì mỗi người Kitô hữu sẽ đủ can đảm và nghị lực, tình yêu và lòng quảng đại để: Tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu…”.

Phải chăng đó chính là một trong những “câu trả lời hay nhất và chính xác nhất về niềm hy vọng của chúng ta”, nếu chúng ta bị chất vấn về niềm tin, về hy vọng của mình; mà dù không có ai chất vấn đi nữa, thì cuộc sống đức tin của người Kitô hữu phải luôn là một “thuyết minh sinh động” về Tin mừng của Đức Kitô, về những “hoa trái của Chúa Thánh Thần”, như hàng hàng lớp những bài thuyết minh tuyệt vời trong suốt 2000 năm lịch sử của Hội Thánh.         

Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau được đứng chung trong hàng ngũ của những người đó để viết tiếp câu trả lời về niềm hy vọng Kitô hữu, tiếp tục lời chứng sống động về tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần, tiếp tục chứng ta về niềm tin vào Thiên Chúa khi đối diện với muôn thách đố trên cuộc đời…, như chứng tá của ngài, Franklin, chính khách lừng danh, bậc khai quốc công thần của Mỹ trong ngày chính thức thiết lập hiến pháp quốc gia Hoa Kỳ cách đây hơn 200 năm:

Năm 1787, để lập hiến pháp đầu tiên cho Hợp Chủng Quốc, là nước Mỹ bây giờ, các đại biểu họp nhau lại để bàn luận. Trong dịp nầy, đại biểu Franklin đứng lên nói một câu rất cảm động: “Thưa các bạn, chúng ta hãy nguyện kinh trước đã. Sống lâu năm, và càng sống thêm, tôi càng nhận rõ điều nầy là: có Thiên Chúa điều khiển mọi sự. Nếu một con chim sẻ không rớt xuống đất khi Thiên Chúa không cho phép, thì một quốc gia được thành lập thế nào được khi không có Ngài nâng đỡ?”.

Vâng, điểm tựa duy nhất để con người không bao giờ thất vọng đó chính là Thiên Chúa.

Trương đình Hiền