Views: 1
Dẫn nhập
Trong câu chuyện lịch sử truyền giáo của Kitô giáo tại Việt Nam, có thuật ngữ vừa quen thuộc vừa giàu ý nghĩa thần học, mục vụ hay tu đức đó là “thừa sai”. Người tín hữu Công giáo thường dùng từ này để chỉ các nhà truyền giáo ngoại quốc hoặc những người lên đường loan báo Tin Mừng, mở đạo cho những vùng đất, những dân tộc ngoại giáo… Tuy nhiên, trong ánh sáng mạc khải Kitô giáo, “thừa sai” không chỉ là một danh xưng dành cho một số người hay một giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng là một ơn gọi, một sứ mệnh phát xuất từ chính Thiên Chúa:
“Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi;
Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói” (Gr 1,7).
“Ta sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?”
Tôi thưa: “Dạ con đây, xin sai con đi”
Chúa phán: “Hãy đi nói vơi dân này rằng:… (Is 6,8-9)
Thàn khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi,
vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn… (Is 61,1…)
Thật vậy, trước khi có các nhà thừa sai, đã có Thiên Chúa là Đấng sai đi. Trước khi có Giáo Hội truyền giáo, đã có Chúa Cha sai Chúa Con đến trần gian, và Chúa Con sai các môn đệ tiếp tục công trình cứu độ. Vì thế, mọi hoạt động truyền giáo của Giáo Hội đều bắt nguồn từ chính sự sống và tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam là một minh chứng sống động cho dòng chảy liên tục ấy. Từ những nhà truyền giáo đầu tiên tận trời Âu xa xôi mịt mùng, trùng dương cách trở, đến các Giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo lý viên và giáo dân bản địa Việt Nam, tất cả đều là những mắt xích trong cùng một sứ mạng được trao truyền qua các thế hệ.
I. “THỪA SAI” – TỔNG QUAN Ý NGHĨA
1. Thừa sai khởi nguồn từ Thiên Chúa:
Trong thần học Công giáo, truyền giáo không phải là sáng kiến của con người nhưng là chương trình huyền nhiệm của Thiên Chúa; Thiên Chúa muốn quy tụ toàn thể nhân loại trong Con của Ngài, Đức Giêsu Kitô. Công đồng Vaticanô II khẳng định:
“Từ muôn thuở, Chúa Cha “đã kêu gọi và tiền định để họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài để Người Con Một trở nên trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29). Ngài quyết định quy tụ những ai tin vào Đức Kitô thành một Giáo Hội thánh thiện, được tiên báo bằng hình ảnh biểu trưng ngay từ lúc khởi nguyên thế giới, được chuẩn bị cách diệu kỳ nơi lịch sử dân Israel và Cựu ước, được thiết lập vào thời kỳ sau hết, được tỏ lộ trong ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống và sẽ được hoàn tất trong vinh quang vào lúc kết tận thời gian. Bấy giờ, như các Giáo phụ nói, tất cả những người công chính từ thời Ađam, “từ Abel, người công chính, tới người được tuyển chọn cuối cùng” sẽ được qui tụ lại bên Chúa Cha trong Giáo Hội phổ quát.” (Giáo Hội – Lumen Gentium – LG số 2).
2. Chúa Kitô – Nhà Thừa Sai đầu tiên của Chúa Cha:
Toàn bộ Tin Mừng Gioan được xây dựng trên chủ đề “Đấng được sai đến”. Chúa Giêsu nhiều lần xác quyết: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy.” (Ga 4,34); “Ta không tự mình mà đến, nhưng chính Cha đã sai Ta.” (Ga 8,42); “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20,21)…
Như vậy, chính Đức Kitô là vị Thừa Sai đầu tiên, được Chúa Cha sai đến để mạc khải khuôn mặt Thiên Chúa và hoàn tất công trình cứu độ.
“Chúa Kitô, “Đấng được Chúa Cha thánh hóa và sai xuống trần gian” (x. Ga 19,36) đã nói về chính mình rằng: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo khó, chữa lành những tâm hồn đau khổ, loan báo sự giải thoát cho những người bị giam cầm và làm cho những kẻ đui mù được nhìn thấy” (Lc 4,18), và Người còn nói: “Con Người đến tìm kiếm và cứu vớt điều gì đã hư mất” (Lc 19,10). (Sắc lệnh về Truyền giáo – Ad Gentes = AG số 3).
3. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”:
“Thừa sai” nguyên ngữ gốc Hán: Thừa (承): lãnh nhận, tiếp nối, kế thừa. Sai (差): được sai đi.[1] Tiền nhân chúng ta đã dùng từ “Thừa sai” để chuyển ngữ từ “Missionarius” của La ngữ[2] (Thừa sai, nhà truyền giáo, sứ giả Tin Mừng…). Bản văn sau đây của Sắc lệnh về Truyền giáo sẽ cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa của “người mang sứ mệnh hay ơn gọi thừa sai”:
“Do đó, những người có tư chất thích hợp, đủ năng lực tinh thần và trí tuệ, sẵn sàng lãnh nhận công cuộc truyền giáo, đều được kể là có ơn gọi đặc biệt, dù là người địa phương hay ngoại quốc, là linh mục, tu sĩ hay giáo dân. Được sai đi bởi những vị có thẩm quyền hợp pháp, với đức tin và thái độ vâng phục, họ ra đi đến với những người cón xa lạ với Chúa Kitô, bởi họ được dành riêng để lo công việc mà họ được chọn để thi hành (x. Cv 13,2) như là những thừa tác viên của Tin Mừng, “để hiến lễ của chư dân được chấp nhận và thánh hóa trong Chúa Thánh Thần” (Rm 15,16) (AG số 23).
Vì thế: Thừa sai là người lãnh nhận một sứ mạng để ra đi tiếp tục thi hành. Ý nghĩa này diễn tả rất chính xác bản chất của Giáo Hội tông truyền. Người thừa sai không hoạt động nhân danh chính mình. Người thừa sai tiếp nối sứ mạng của Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần từ nơi Chúa Cha.
Đỉnh cao của thần học thừa sai nằm trong lời Đức Kitô Phục Sinh: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20,21). Điều này cho thấy người thừa sai không phải là người tự nguyện đi làm một công việc tôn giáo, nhưng là người lãnh nhận một sứ mạng được trao ban từ chính Đức Kitô và trong Hội Thánh của Người:
“Vì thế, vâng lệnh Chúa Kitô đồng thời được ân sủng và tình yêu Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Giáo Hội thực thi sứ mệnh, khi thực sự hiện diện giữa mọi người và mọi dân tộc, bằng cách hoạt động để nhờ gương mẫu đời sống, lời giảng dạy, các bí tích và những phương thế trao ban ân sủng khác, dẫn đưa tất cả đến với đức tin, đón nhận ơn giải thoát và bình an của Chúa Kitô, nhờ đó mở ra con đường thông suốt và vững chắc giúp họ thông dự trọn vẹn vào mầu nhiệm Chúa Kitô.” (AG số 5).
4. Mọi Kitô hữu đều mang căn tính thừa sai:
Được sai đi loan báo Tin Mừng hay làm “thừa sai”, làm “tông đồ” để mở mang Nước Chúa chính là ơn gọi chung của mọi Kitô hữu, không trừ ai:
“Giáo Hội được thiết lập nhằm mở rộng nước Đức Kitô trên khắp địa cầu để tôn vinh Thiên Chúa Cha, và làm cho mọi người được tham dự vào công trình cứu độ, để rồi nhờ họ, toàn thể vũ trụ thực sự được qui hướng về Đức Kitô. Mọi hoạt động của Nhiệm Thể hướng về mục đích này được gọi là việc tông đồ, được thực hiện bởi tất cả các chi thể của Giáo Hội với nhiều cách thức khác nhau. Thật ra, ơn gọi làm Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ…” (Sắc lệnh Tông đồ giáo dân – Apostolicam Actuositatem = AA số 2).
Ngày nay, không ai còn giới hạn danh xưng “thừa sai” là chỉ để nói đến các nhà truyền giáo đi đến miền xa xôi. Qua Bí tích Rửa tội và Thêm sức, mọi Kitô hữu đều được sai đi để làm chứng cho Tin Mừng, như Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô quả quyết trong tông huấn Kitô hữu giáo dân[3]: Trong Vườn Nho của Chúa “không có chỗ cho những kẻ ăn không ngồi rồi”:
Chúng ta hãy đọc lại dụ ngôn trong Tin Mừng: “Khoảng năm giờ chiều, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: ‘Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?’. Họ đáp: ‘Vì không ai mướn chúng tôi’. Ông bảo họ: ‘Cả các anh nữa, vào làm vườn nho cho tôi đi!’” (Mt 20,6-7). Không có chỗ cho việc ăn không ngồi rồi, trong khi còn biết bao công việc đang chờ đợi tất cả chúng ta trong vườn nho của Chúa. “Ông chủ vườn” lập lại còn khẩn khoản hơn: “Cả các anh nữa, vào làm vườn nho cho tôi đi!” (Kitô hữu giáo dân – Christifideles Laici – CL số 3).
II. CÁC THẾ HỆ THỪA SAI TẠI VIỆT NAM
Lịch sử Giáo Hội Việt Nam là lịch sử của nhiều thế hệ thừa sai kế tiếp nhau. Mỗi thế hệ mang những nét đặc trưng riêng nhưng đều nối tiếp cùng một sứ mạng của Đức Kitô.
1. Thế hệ thừa sai ngoại quốc trước năm 1659:
Đây là thời kỳ khai mở việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam; công cuộc truyền giáo của thời này trên toàn thế giới nói chung và tại vùng Á Châu nói riêng chịu ảnh hưởng của chế độ “Bảo trợ truyền giáo” (Patronatus – Patroado).[4] Thời gian “khai phá” này diễn ra trong khoảng thời gian giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 17; và các nhà truyền giáo đầu tiên đặt chân đến Việt Nam tiêu biểu là các thừa sai của các Dòng tu sau đây:
1.1. Đa Minh: Từ năm 1549, tại Malacca đã có 18 nhà dòng và Tỉnh dòng Thánh Giá của Đông Ấn chính thức được thành lập năm 1550. Riêng tại vùng đất Việt Nam bây giờ (bao gồm Đàng Ngoài, Đàng Trong, Champa, Chân Lạp), từ thế kỷ 16 đã có một số thừa sai Đaminh đến truyền giáo[5].
1.2. Phanxicô: Từ thế kỷ 14-15 đã có mặt tại Trung Hoa và Ấn Độ. Vào thế kỷ 16, Goa trở thành trung tâm truyền giáo của vùng Đông Nam Á. Năm 1579, tu viện Phanxicô được thiết lập tại Manila (Philippines), Macao (Trung Hoa). Khoảng năm 1583-1586, các tu sĩ Phanxicô đã có mặt tại Đàng Ngoài.[6]
1.3. Augustinô: Hoạt động tại Đàng Trong khoảng từ năm 1595-1596. Hồi ký của linh mục Ordonnez de Cervallos 1590 có kể câu chuyện về “Công Chúa Mai Hoa”. Nhưng theo các nhà sử học, đó chỉ là chuyện hư cấu.[7]
1.4. Dòng Tên: những người đã để lại những dấu ấn quan trọng và rõ ràng (về thời điểm, con người và hành trạng…) được ghi lại và lưu giữ trong các kho tàng sử liệu đạo đời …[8].
Từ khi các thừa sai Dòng Tên đặt chân đến Đàng Trong vào năm 1615 và thành lập ba cư sở tại Nước Mặn, Hội An và Dinh Chiêm, cánh đồng truyền giáo tại đây ngày càng mở rộng. Sau đây là con số thừa sai được gởi đến… Thống kê trên đây cho thấy con số thừa sai Dòng Tên được gởi đến Đàng Trong từ ngày 18.01.1615 cho đến ngày 09.09.1559, ngày Tòa Thánh thiết lập hai Giáo phận Tông tòa đầu tiên tại Đại Việt, là 36 vị. Sau 44 năm với 36 vị ở Đàng Trong và sau 32 năm với 44 vị ở Đàng Ngoài.[9]
Chính trong thời “khai hoang vở hóa đức tin” đó, các thừa sai đã bất chấp mọi gian nguy, lênh đênh vượt biển trên những con thuyền buôn[10] đến miền Viễn Đông xa xôi (trong đó có Việt Nam) với mục tiêu duy nhất là loan báo Tin Mừng. Thời gian này, có thể nói được, là thời kỳ gieo hạt; vừa là “hạt giống Tin Mừng” hay “di sản đức tin” (Giáo lý, Thần học, Phụng vụ, Kinh nguyện…) vừa là “hạt giống nhân sinh” hay di sản văn minh, văn hóa (ngôn ngữ, sách vở, nghệ thuật, truyền thông…).[11]
2. Thế hệ thừa sai từ năm 1659 trở về sau: Thừa sai MEP:
Năm 1659 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong công cuộc truyền giáo tại Việt Nam khi Tòa Thánh thiết lập hai Địa phận Tông tòa Đàng Ngoài và Đàng Trong[12]. Sự kiện này, có thể nói được, là sự “hiện thực hóa” định hướng “bẻ lái” của con thuyền Giáo Hội khỏi quỷ đạo “Bảo trợ truyền giáo”[13]. Từ đây, công cuộc truyền giáo bước sang giai đoạn tổ chức bài bản và chuẩn mực hơn dưới quyền Tòa Thánh qua cơ cấu Thánh bộ Truyền Bá đức tin[14]. Bên cạnh các dòng tu truyền giáo tiếp tục hiện diện, các Giám mục và linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP)[15] đóng vai trò đặc biệt trong công cuộc đào tạo hàng giáo sĩ Việt Nam; tổ chức giáo phận; xây dựng chủng viện; phát triển đời sống mục vụ; củng cố Giáo Hội giữa các cuộc bách hại… Đây là thời kỳ xây nền cho Giáo Hội Việt Nam.
3. Thế hệ thừa sai bản địa:
Hoa trái lớn nhất của công cuộc truyền giáo chính là sự hình thành đội ngũ thừa sai người Việt. Tiêu biểu là:
– Hội Thầy giảng. Được hình thành từ rất sớm để cộng tác trực tiếp với các nhà truyền giáo. Các Thầy giảng vừa là giáo lý viên, vừa là nhà truyền giáo, vừa là chứng nhân đức tin[16]. Học giả Phạm Đình Khiêm trong tác phẩm “Người chứng thứ nhất” đã ghi nhận:
“Tại Việt Nam, vấn đề thầy giảng cũng nẩy sinh do nhu cầu truyền giáo và hoàn cảnh lịch sử như trên, nhưng do một sự sắp đặt riêng của Chúa Quan phòng, tổ chức này đã trở nên một phương pháp chuẩn bị trực tiếp để thiết lập hàng linh mục, vì tất cả các linh mục Việt Nam đầu tiên đều xuất thân tự hàng thầy giảng. Đó là công nghiệp đặc biệt của giáo sĩ Đắc Lộ”[17].
Riêng thầy giảng Gioan Thanh Minh[18] (1588-1663), một chứng nhân tử đạo, đã để lại một di sản “Quốc ngữ Nôm” vô cùng quý giá trong kho tàng văn học Việt Nam cũng như “văn hóa đức tin” của Giáo Hội Công giáo Việt Nam.[19]
– Dòng Mến Thánh Giá: Là Dòng tu nữ đầu tiên do Đức cha Pierre Lambert de La Motte (1624-1679)[20] thành lập tại Việt Nam. Các nữ tu vừa sống đời tận hiến vừa trực tiếp tham gia truyền giáo bằng: giáo dục; bác ái; chăm sóc người nghèo; huấn giáo…
– Hàng giáo sĩ Việt Nam: Từ linh mục Việt Nam đầu tiên được truyền chức, cha Giuse Trang[21] (1640-1676)[22] cho đến khi hàng Giáo phẩm Việt Nam được thành lập (1960), Giáo Hội ngày càng mang khuôn mặt bản địa. Các ngài trở thành những người kế tục trực tiếp sứ mạng các thế hệ thừa sai tiên khởi[23]. Trong số những linh mục Việt Nam thuộc thế hệ “đời đầu” đó, không thể không nhắc đến linh mục Lữ Y Đoan (1613-1678)[24], một nhà văn hóa lớn mà tác phẩm “Quốc ngữ Nôm” “Sấm Truyền Ca”[25] là một di sản văn hóa quý báu trong kho tàng đức tin cũng như văn học Việt Nam.
Kế thừa những “cây đại thụ” tiền bối đó, nơi hàng giáo sĩ Việt Nam còn xuất hiện những gương mặt sáng giá mà những di sản văn hóa của các ngài mãi mãi được trân trọng và truy tầm học hỏi. Trong đó, phải kể đến hai linh mục sau: cha Philipphê Bỉnh (Philipphê Rosario Bỉnh, 1759–1832)[26], một linh mục người Việt thuộc thế hệ các linh mục bản địa được đào tạo trong truyền thống Dòng Tên truyền giáo tại Đàng Ngoài, và thánh linh mục tử đạo Philipphê Phan Văn Minh (1815–1853)[27], thuộc hàng giáo sĩ Đàng Trong, học trò của các linh mục MEP. Các ngài đã nổi lên như một biểu tượng của lớp trí thức Công giáo Việt Nam đầu tiên tham gia vào việc kiến tạo nền học thuật Quốc ngữ.
– Giáo dân và các chức việc: Không thể không nhắc đến: các trùm họ; biện họ; câu; giáo lý viên; người giữ nhà thờ; ca trưởng; các hội đoàn; các gia đình Công giáo… Chính họ là lực lượng gìn giữ và truyền trao đức tin suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt trong thời kỳ bách hại. Nhờ đó, Giáo Hội Việt Nam không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ.
Kết luận
Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam không phải là câu chuyện của một vài nhà truyền giáo ngoại quốc, cũng không chỉ là bảng niên biểu các biến cố hay những thành tựu mục vụ. Đó là lịch sử của một “dòng chảy thừa sai” liên tục được khởi nguồn từ chính Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Chúa Cha sai Chúa Con, Chúa Con sai các Tông đồ, các Tông đồ sai những người kế vị, và qua bao thế hệ, sứ mạng ấy như ngọn đuốc thiêng đã được giữ gìn và chuyển trao đến mọi thành phần dân Chúa của Giáo Hội tại Việt Nam.
Nhìn lại hành trình ấy, có thể nhận ra ba thế hệ thừa sai lớn: các nhà truyền giáo ngoại quốc khai mở cánh cửa Tin Mừng; các vị Đại diện Tông tòa, các hội truyền giáo và các dòng tu xây dựng cơ cấu và đời sống Giáo Hội; cuối cùng là chính người Công giáo Việt Nam – từ Hội Thầy giảng, Dòng Mến Thánh Giá, hàng Giáo sĩ đến đông đảo giáo dân – đã trở thành những chủ thể của sứ mạng trên chính quê hương mình. Các thế hệ ấy không tách rời nhau nhưng liên kết trong cùng một truyền thống được “thừa” và được “sai”.
Bởi thế, “thừa sai” không chỉ là tên gọi của một số nhà truyền giáo trong quá khứ. Đó là căn tính của toàn thể Giáo Hội. Mỗi Kitô hữu, khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức, đều được tham dự vào dòng chảy của sứ mạng ấy để tiếp nối lời sai đi của Đức Kitô: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Chính trong sự trung thành với lệnh truyền đó, Giáo Hội tại Việt Nam đã sinh hoa kết trái suốt hơn bốn thế kỷ và tiếp tục được mời gọi trở thành một Giáo Hội vừa mang đậm căn tính dân tộc, vừa luôn hướng ra thế giới trong tinh thần loan báo Tin Mừng.
Linh mục Giuse Trương Đình Hiền
[1] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN – BAN TỪ VỰNG CÔNG GIÁO, Từ điển Công giáo, Nxb Tôn giáo 2016, Mục từ “THỪA SAI, VỊ”, tr. 867.
[2] Missionarius bắt nguồn từ động từ gốc là: mittere = sai đi, phái đi, gửi đi. Phân từ quá khứ của mittere là: missus, -a, -um = được sai đi, được phái đi. Từ đó hình thành: missio → missionarius. Có thể hình dung chuỗi phát triển: mittere (sai đi) → missus (được sai đi) → missio (việc/sứ mạng sai đi) → missionarius (người thuộc về sứ mạng, người được sai đi để thi hành sứ mạng).
[3] Kitô hữu giáo dân (Christifideles Laici) là Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ VII (1-30.10.1987) về ơn gọi và sứ mạng của người Kitô hữu giáo dân trong Giáo Hội và giữa lòng thế giới, được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 30.12.1988. Văn kiện nhấn mạnh rằng giáo dân không chỉ là người “tham dự” đời sống Giáo Hội, nhưng thực sự được mời gọi nên thánh và tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng, đặc biệt qua đời sống và hoạt động giữa trần thế. Tông huấn trình bày căn tính, ơn gọi, sự hiệp thông và trách nhiệm tông đồ của giáo dân trong Giáo Hội hiệp thông và truyền giáo.
[4] Chế độ “Bảo trợ truyền giáo” thường được gọi chung bằng tiếng La tinh là Patronatus (tiếng Bồ Đào Nha: Patroado) hình thành từ sắc chỉ “Inter Caetera” của Đức Giáo hoàng Alexandro VI ký ngày 04.5.1493, “phân chia quyền bảo trợ truyền giáo cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Sau đó hai nước ký hiệp ước tại Tordesillas (Tây Ban Nha) vào ngày 07.06.1494, thỏa thuận đường ranh giới là kinh tuyến 30 từ Bắc cực xuống Nam cực. Tây kinh tuyến thuộc Tây Ban Nha; Đông kinh tuyến thuộc Bồ Đào Nha, gồm Phi châu và Á châu…” (x. BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ GIÁO PHẬN, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, Nxb. An Tôn & Đuốc Sáng 2017, tr. 44; STEPHEN B. BEVANS – ROGER P. SCHROEDER, Trung Thành và thích nghi (Constants in Context) – Thần học Truyền giáo cho hôm nay, bản dịch Việt ngữ: Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên, Nxb Tôn Giáo 2020, Chương 6: Truyền giáo trong thời đại khám phá (1492-1773), tr. 286-287).
[5] X. LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ, Nxb Hồng Đức 2023, tr. 60-62.
[6] SĐD, tr. 62-66.
[7] SĐD, tr. 66-69.
[8] BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, sđd, CHƯƠNG II: CÁC THỪA SAI DÒNG TÊN TỪ MA CAO ĐẾN ĐÀNG TRONG, tr. 43-56.
[9] SĐD, CHƯƠNG III: CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO CỦA CÁC THỪA SAI TẠI ĐÀNG TRONG, tr. 83.
[10] X. TRƯƠNG ĐINH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, Nxb An Tôn & Đuốc Sáng 2021, tr. 26: “… con đường hàng hải với những con tàu vượt đại dương, lại là một thu hút mãnh liệt những bước chân ra đi làm chứng Phúc âm của những chàng trai “máu lửa” Âu Châu mà căn tính Kitô mang dấu ấn của những Dòng tu (Dòng Phanxicô, Dòng Đa Minh) đang phục hồi sức sống cho Giáo Hội. Nương theo những cánh bườm của những đoàn tàu đi chinh phục những miền đất mới, đặc biệt, những cuộc hải hành “chính quy” thuộc các “đại gia hàng hải” đó là hai quốc gia Công Giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, từng đoàn thừa sai cũng đã được “sai đi” để buông lưới…”
[11] X. NGUYỄN THỪA HỶ, Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII-XIX (qua các nguồn tư liệu phương Tây), Nxb Khoa học xã hội 2020, tr. 393: “Trong lịch sử, văn hóa Thiên Chúa giáo có phần đóng góp của mình vào gia tài chung của văn hóa truyền thống Việt…”.
[12] Ngày 9.9.1659, với Sắc chỉ Super Cathedram, Đức Giáo hoàng Alexandro VII đã thiết lập hai Giáo phận Tông tòa Đàng Ngoài và Đàng Trong và giao cho hai Giám mục: Pierre Lambert de La Motte (1624-1679): Đại diện Tông tòa Đàng Trong (Vicario apostolico in regno Cocincinae) và François Pallu (1626-1684): Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài (Vicario apostolico in regno Tunchini). X. ADRIEN LAUNAY, Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1823, Documents historiques I, 1658-1728, P. Tequi, Paris 1923, tr. 9-10.
[13] LM ĐÀO QUANG TOẢN, Giáo Hội Việt Nam năm 1659, Nxb Phương Đông 2010, Lời dẫn nhập, tr. 9. (Xem thêm: TRƯƠNG ĐINH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, sđd, tr. 28-35).
[14] Thánh bộ Truyền bá đức tin: Bắt đầu thành lập năm 1622, cơ quan này mang tên La tinh Sacra Congregatio de Propaganda Fide (trong tiếng Việt ngày nay quen dịch là Thánh Bộ Truyền giáo nhiều hơn là Thánh Bộ Truyền bá đức Tin, từ năm 1946 trở về trước cũng còn gọi là Tòa Áp giải việc truyền giáo); ngày 15.8.1967, Đức Giáo hoàng Phaolô VI bằng Hiến chế Regimini Ecclesiae đổi tên Bộ này là Sacra Congregatio pro Gentium Evangelizatione seu de Propaganda Fide (Thánh Bộ Phúc âm hóa các Dân tộc hoặc Truyền bá đức Tin); ngày 28.6.1988, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II bằng Hiến chế Pastor bonus lại rút gọn tên Bộ này là Congregatio pro Gentium Evangelizatione (Bộ Phúc âm hóa các Dân tộc). X. ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ, Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, Nxb Tôn giáo 2008, tr. 20-21.
[15] MEP: Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (La Société des Missions Etrangères de Paris – Viết tắt: Les MEP). Xem đầy đủ lịch sử hình thành MEP qua bài viết: Lịch sử hình thành Hội Thừa Sai Paris của tác giả MICHEL TRƯƠNG, đăng trên trang web của HĐGMVN ngày 20.8.2021, link: LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH HỘI THỪA SAI PARIS. (X. ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ., Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, sđd, tr. 110-117).
[16] LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, sđd, tr. 293-295.
[17] PHẠM ĐÌNH KHIÊM, Người chứng thứ nhất, Nxb Tinh Việt 1959, tr. 71.
[18] Gioan Thanh Minh (1588-1663): thầy Gioan Thanh Minh (còn được gọi là Jean Vuang hay Ke-Tlam), sinh quán tại làng Thanh Minh, quận Bình Sơn, Quảng Ngãi, một trong bốn “chứng nhân tử đạo” của cuộc bách hại năm 1663. Thầy là một thi sĩ, một người thông thạo Hán Nôm, từng dạy ngôn ngữ cho các linh mục thừa sai, soạn tác thơ văn giáo lý để dạy đạo, rất khiêm nhường đạo đức vâng phục bề trên và đã chết vì đạo cách oai hùng. Là con nhà giàu, học giỏi, có vợ Công Giáo tên thánh Anna. Khi vợ chết xin gia nhập hội Thầy Giảng khoảng năm 1643. Thầy Gioan Thanh Minh, với cái vốn Hán Nôm phong phú, đã soạn tác 15 tác phẩm bằng chữ Nôm, hầu hết là hạnh các thánh.
[19] X. LM. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Giáo Hội và và văn học nghệ thuật, Nxb Tôn giáo 2024, tr. 22-23: Thầy Gioan Thanh Minh (1588-1663).
[20] Đức cha Pierre Lamberd de la Motte (1624-1679): sinh ngày 16.01.1624 tại Saint-Jacques de Lisieux, Pháp. Được tấn phong Giám mục năm 1660 và sau đó lên đường đến Viễn Đông tại Ayutthaya (Thái Lan) năm 1662. Tại đây, ngài đã cùng với Đức cha Fr. Pallu mở Công nghị Ayutthaya 1664 với kết quả là văn kiện MONITA (Nhắn nhủ các thừa sai). Năm 1669 viếng thăm mục vụ Đàng Ngoài. Tại đây đã phong chức linh mục cho 7 Thầy Giảng Đàng Ngoài, mở Công nghị Phố Hiến và lập Dòng Mến Thánh Giá Đàng Ngoài (1670). Năm 1671 thăm mục vụ Đàng Trong (lần 1). Lập Dòng Mến Thánh giá Đàng Trong (1671) và mở Công Nghị Hội An (1672). Năm 1675 thăm Đàng Trong (Lần 2) và qua đời tại Ayutthaya ngày 15.6.1679. (X. ĐỖ QUANG CHINH, SJ., Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, sđd, tr. 107-109).
[21] Giuse Trang (1640-1676): Linh mục tiên khởi Việt Nam, gốc người Quảng Ngãi, là thầy giảng do các cha Dòng Tên đào tạo, sau đó được tuyển chọn và đào tạo bổ túc do thừa sai Antoine Hainques, Quyền Đại diện của Đức cha Lambert. Năm 1667, trên một chiếc thuyền về Xiêm, thầy Giuse Trang được gởi đến chủng viện Ajuthia để được Đức cha Lambert hướng dẫn thêm.Vào Lễ Vọng Phục sinh ngày 31.3.1668, thầy Giuse Trang được Đức cha Lambert phong chức linh mục cùng với một thầy giảng người Xiêm lai Bồ là Phanxicô Perez; người sau này được phong chức Giám mục và làm Đại diện Tông tòa Đàng Trong từ năm 1690-1728. Cha Giuse là “người thợ đáng khâm phục”, là linh mục siêu thoát, cẩn trọng và khôn ngoan, nhiệt thành trong sứ vụ và rất được giáo dân thương mến… Trong cuộc kinh lý Đàng Trong lần thứ nhất (1671), Đức cha Lambert đã đặt cha Giuse Trang ở tại Nước Mặn để cai quản giáo đoàn Qui Nhơn (Tức địa bàn giáo phận Qui Nhơn ngày nay). Rất tiếc, cha Giuse Trang tài cao mệnh yểu, ngài được Chúa gọi về (1676) khi mới 36 tuổi đời với 8 năm trong đời linh mục. Một điều cần biết thêm, cha Giuse Trang cũng là bào huynh của chị Bề trên đầu tiên, Dòng Mến Thánh Giá Đàng Trong được Đức cha Lambert thiết lập tại An Chỉ năm 1671. Riêng về phương diện trí thức, cha Giuse Trang thông thạo tiếng La tinh, vì chính ngài được Đức cha Lambert chọn làm “thư ký tiếng Việt” trong Công Nghị Hội An lần thứ I (để thông ngôn, chuyển ngữ các nội dung nghị trình bằng tiếng La tinh sang tiếng Việt).
[22] LM. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những viên ngọc quý giữa tro tàn, Nxb Đồng Nai 2025, tr. 251-252: Giuse Trang, tài cao mệnh yểu.
[23] SĐD, Bài hai: Linh mục Việt Nam tiên khởi: Những hạt gạo trên sàng, tr. 97-168.
[24] SĐD, tr. 153-160: Lữ Y Đoan, nhà văn hóa lơn bị lãng quên.
[25] SĐD, tr. 160-165: Linh mục Lữ Y Đoan và Sấm Truyền ca.
[26] Lm. Philipphê Bỉnh (1759–1832/1833): Philipphê Bỉnh, còn gọi là Philipphê do Rosário, sinh năm 1759 tại Hải Dương, thuộc Đàng Ngoài. Ông vào chủng viện khoảng năm 1775, được đào tạo trong truyền thống Công giáo của các thừa sai Dòng Tên và sau đó được thụ phong linh mục. Trong bối cảnh Dòng Tên bị giải thể năm 1773, cộng đoàn tín hữu Việt Nam thuộc truyền thống Dòng Tên ở Đàng Ngoài đứng trước nguy cơ mất sự chăm sóc mục vụ theo truyền thống của mình.Năm 1796, Philipphê Bỉnh được cử cùng một số linh mục Việt Nam sang Bồ Đào Nha, với sứ mạng vận động triều đình Bồ Đào Nha và Tòa Thánh tìm giải pháp cho tình trạng Giáo hội và các cộng đoàn Công giáo Việt Nam thuộc truyền thống Dòng Tên. Ông đến Lisboa và, do hoàn cảnh phức tạp lúc bấy giờ, cha Bỉnh phải sống tại Bồ Đào Nha hơn ba mươi năm, cho đến cuối đời. Trong thời gian lưu trú tại Lisboa, ngài đã dành phần lớn cuộc đời còn lại cho mục vụ, nghiên cứu, biên soạn và sáng tác. Ngài để lại một khối lượng tác phẩm rất phong phú, khoảng hơn hai mươi tác phẩm, viết bằng chữ Quốc ngữ, chữ Nôm, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh, bao gồm các tác phẩm tôn giáo, hạnh các thánh, lịch sử Giáo hội, lịch sử Việt Nam, ký sự và từ vựng học. Đặc biệt, đối với lịch sử chữ Quốc ngữ và từ điển học Việt Nam, Philipphê Bỉnh có một vị trí rất đáng chú ý. Ông đã biên soạn “Sách tự vị tiếng nước ta cùng tiếng nước người” (1797), một công trình từ vựng Việt–Bồ và Bồ–Việt, cho thấy chữ Quốc ngữ không chỉ được sử dụng để truyền bá giáo lý mà đã trở thành phương tiện ghi chép, hệ thống hóa và đối chiếu ngôn ngữ trong tay một tác giả Việt Nam. Bên cạnh đó, các tác phẩm như Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo, Truyện Annam Đàng Ngoài, Truyện Annam Đàng Trong và đặc biệt Sách sổ sang chép các việc là những tư liệu quý về tiếng Việt, văn hóa Việt Nam, đời sống Công giáo và xã hội Bồ Đào Nha cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Cha Philipphê Bỉnh qua đời tại Lisboa, thường được xác định vào năm 1832, dù một số tài liệu ghi 1833.
[27] Thánh Linh mục tử đạo Philípphê Phan Văn Minh (1815–1853): Sinh năm 1815 tại Cái Mơn, Vĩnh Long, trong một gia đình Công giáo đạo đức. Ngài là người con thứ mười hai trong gia đình có 14 người con. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Phan Văn Minh được người chị cả tận tình chăm sóc và hướng dẫn đời sống đức tin. Năm 1828, lúc mới 13 tuổi, sau khi lãnh nhận Bí tích Thêm Sức từ Đức cha Jean-Louis Taberd, cậu xin gia nhập nhà trường Latinh và được nhận vào Chủng viện Lái Thiêu. Khi cuộc bách hại đạo dưới triều Minh Mạng trở nên gay gắt, Chủng viện Lái Thiêu bị giải tán. Thầy Minh được đưa sang Đại Chủng viện Penang (Pénang, Malaysia) tiếp tục học tập và tu luyện. Tại đây, thầy nổi bật về khả năng La tinh, tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ và chữ Hán, đồng thời được đánh giá cao về đạo đức, trí thông minh và tinh thần phục vụ. Một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong hành trình của thầy Minh là việc Đức cha Taberd gọi thầy sang Calcutta (Ấn Độ) để cộng tác trong công trình từ điển học. Khoảng cuối thập niên 1830, thầy cùng một số cộng sự người Việt tham gia giúp Đức cha Taberd chỉnh lý và hoàn thành bộ Dictionarium Anamitico-Latinum và Latino-Anamiticum, được xuất bản tại Serampore năm 1838. Công trình này kế thừa bản thảo từ điển của Đức cha Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) và trở thành một trong những công trình từ điển Việt–La, La – Việt quan trọng nhất của thế kỷ XIX. Sau thời gian học tập, thầy Minh trở về Việt Nam và được Đức cha Étienne-Théodore Cuénot Thể truyền chức linh mục khoảng năm 1846. Ngài thi hành mục vụ tại nhiều vùng thuộc Nam Bộ, đặc biệt quan tâm đến việc thăm viếng, giảng dạy giáo lý và nâng đỡ đời sống đức tin của các tín hữu trong hoàn cảnh Giáo Hội vẫn thường xuyên phải đối diện với những đợt cấm đạo. Cha Phan Văn Minh còn để lại một di sản đáng kể trong văn học Công giáo bằng chữ Quốc ngữ, đặc biệt qua di cảo thi ca “Phi Năng thi tập”, một “thi đàn” văn chương Công giáo quan trọng ở Nam Bộ giữa thế kỷ XIX (bao gồm 35 bài thơ của cha Minh và khoảng 100 bài thơ họa của các thi hữu). Cuối năm 1852, khi cuộc bách hại dưới triều vua Tự Đức trở nên khốc liệt, cha Minh bị bắt cùng với ông trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu và một số tín hữu ngày 25 tháng 2 năm 1853. Sau một thời gian bị giam tại Vĩnh Long, ngài bị kết án tử hình xử trảm ngày 3 tháng 7 năm 1853 tại pháp trường Đình Khao, Vĩnh Long, hưởng dương 38 tuổi. Ngài được Đức Giáo hoàng Lêô XIII tuyên Chân phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988, cùng với 116 vị tử đạo Việt Nam. Lễ kính ngài được cử hành ngày 3 tháng 7.


