Views: 3
(Bài chia sẻ trong cuộc họp HĐMV.GPQN. 18/11/2025)
Dẫn nhập: Trong cung cách “đối thoại trong Thánh Thần”
Kính thưa…
Trong Thư Chung tháng 10/2025 vừa qua của HĐGMVN có nhắc tới một phương pháp cần vận dụng để thực hiện xuyên suốt định hướng mục vụ của năm nay hay trong sinh hoạt đức tin thường xuyên của cộng đoàn dân Chúa đó chính là phương pháp “ĐỐI THOẠI TRONG THÁNH THẦN”:
“Để định hướng mục vụ năm nay có hiệu quả, chúng tôi mời gọi các linh mục và tu sĩ hãy đồng hành với anh chị em giáo dân qua việc giải thích, hướng dẫn và cùng nhau thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. “Đối thoại trong Thánh Thần” là phương pháp được Thượng hội đồng Giám mục áp dụng thường xuyên trong các kỳ họp và mang lại những thành quả tích cực. Các linh mục và tu sĩ nên học hỏi và áp dụng phương pháp này trong việc đồng hành với giáo dân, cùng nhau lắng nghe Lời Chúa, củng cố sự hiệp thông, và thúc đẩy mọi người tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.” (TC số 6).
Để mở đầu cho cuộc “đối thoại trong Thánh Thần” của cuộc họp mặt HĐMV hôm nay, xin được chia sẻ một đôi cảm nhận và xác tín về chủ đề “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai” trên trích đoạn Lời Chúa Mc 11,1-3 và Văn kiện Chung kết số 9.
Giờ đây, xin mời cộng đoàn chúng ta cùng đứng lên, đọc chung với nhau hai trích đoạn Lời Chúa và Huấn quyền Giáo Hội, như là kim chỉ nam để soi sáng cho cuộc “đối thoại trong Thánh Thần” của chúng ta hôm nay:
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Máccô:
Khi Đức Giê-su và các môn đệ đến gần thành Giê-ru-sa-lem, gần làng Bết-pha-ghê và Bê-ta-ni-a, bên triền núi Ô-liu, Người sai hai môn đệ và bảo: “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Tới nơi, sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và đem nó về đây. Nếu có ai bảo: “Tại sao các anh làm như vậy? “, thì cứ nói là Chúa cần đến nó và Người sẽ gởi lại đây ngay.” (Mc 11,1-3)
Văn kiện Chung kết số 9:
“Tiến trình hiệp hành không kết thúc khi Đại hội hiện tại của Thượng Hội đồng Giám mục khép lại, mà còn bao gồm cả giai đoạn thực thi. Với tư cách là thành viên của Đại hội và là thừa sai hiệp hành trong các cộng đoàn sở tại của mình, chúng tôi ý thức trách nhiệm trong việc thúc đẩy tiến trình này. Các Giáo hội địa phương được mời gọi tiếp tục cuộc hành trình hằng ngày với phương pháp thỉnh ý và phân định theo phong cách hiệp hành, xác định các đường lối cụ thể và các tiến trình đào tạo để đạt được một sự hoán cải hiệp hành hữu hình trong các thực tại khác nhau của Giáo hội (các giáo xứ, các hội dòng đời sống thánh hiến và các tu đoàn đời sống Tông đồ, các hiệp hội và phong trào giáo dân, các giáo phận, các Hội đồng Giám mục, các nhóm Giáo hội, v.v…).” (VKCK số 9).
Xin cộng đoàn chúng ta dành một chút thinh lặng để nghe Chúa Thánh Thần nói riêng cho mỗi người chúng ta qua những gợi ý của hai trích đoạn trên…
I. TRUYỀN GIÁO, ĐƠN GIẢN, “HÃY LÀM CHÚ LỪA CON
1. Hình ảnh cụ thể thay vì lý thuyết:
Trước hết, chúng ta dành việc suy tư học hỏi chủ đề “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai”, hay nói cách khác, dành việc chia sẻ về cách cảm nhận và kinh nghiệm để làm phong phú cho việc sống ơn gọi và sứ mệnh truyền giáo của mỗi người chúng ta khi lắng nghe trích đoạn Tin Mừng Máccô về việc Chúa Giêsu dùng một con lừa để tiến vào thành Giêrusalem để thực hiện cuộc Vượt Qua cuối cùng.
Sở dĩ chọn trích đoạn Lời Chúa này để suy tư về “truyền giáo” là muốn tất cả chúng ta không tụ họp ở đây để bàn suông cách lý thuyết hay những thảo luận mang tính thần học cao xa, với những mỹ từ “có cánh”… mà là những sẻ chia và đóng góp những kinh nghiệm thực tế của đời thường Kitô hữu.
2. Truyền giáo: cần cù, khiêm hạ như một chú lừa con:
2.1. Từ “Con lừa Etchegarey”:
Để cảm nhận rõ hơn về “hình ảnh con lừa” được áp dụng cho ơn gọi và sứ mệnh truyền giáo của người Kitô hữu, chúng ta có thể nghe lại cảm nhận của chính đức cố Hồng y Etchegarey đã viết khi suy tư về hành trình ơn gọi của mình:
“…Tôi tiến bước, như con lừa vùng Giêrusalem mà Đấng Mêsia, vào ngày Lễ Lá, đã cưỡi lên như một ông vua hiền lành. Tôi chẳng biết gì nhiều, nhưng tôi biết là tôi đang cõng Đức Kitô trên lưng tôi, và tôi thì quá hãnh diện còn hơn được là người Basque. Tôi cõng Người, nhưng chính Người dẫn tôi đi. Tôi biết rằng Người dẫn tôi đến Vương Quốc của Người, ở đó tôi sẽ được nghỉ ngơi muôn đời trên những đồng cỏ xanh tươi. Tôi tiến bước, những bước đi chậm chạp. Qua những con đường hiểm trở, cách xa những đại lộ cao tốc, (…). Khi tôi váp phải hòn đá, ông Chủ của tôi chắc bị dằn mạnh lắm, nhưng Ông chẳng hề trách mắng tôi nửa lời… Tôi tiến bước…lặng thinh (…). Câu nói duy nhất của Người mà tôi hiểu được thì hình như chỉ để cho tôi thôi, và tôi cũng chứng thực được điều đó: “Ách của Ta thì dễ mang và sức nặng của Ta cũng nhẹ.” (Mt 11,30). Cũng như khi, Mẹ của Người ngồi trên lưng tôi, đi tới Bêlem, vào một buổi tối Giáng Sinh, sao lúc đó tôi vui sướng làm sao (…). Tôi tiến bước… trong sướng vui. Khi tôi muốn hát lên, ca ngợi, thì tôi lại thốt ra những tiếng ồn ào như lũ quỷ, vì tôi lạc giọng. Còn Người, lúc đó, Người cười ngả nghiêng, một tiếng cười khiến những vết lằn xe trên đường làm nên một điệu vũ, còn những móng chân tôi thành những đôi dép tung trên gió. Những ngày như thế, tôi thề đấy, chúng tôi đi được nhiều lắm! Tôi tiến bước, tiến bước như một con lừa đang cõng Đức Kitô trên lưng”[1].
Riêng linh mục G.B. Trần Văn Hào trong một bài giảng về trích đoạn Lời Chúa trên qua chứng từ của đức Hồng y Etchegarey đã nhận xét thêm rằng:
“Ngu như bò và dốt như lừa”. Nhưng bò và lừa lại là hai vị thượng khách được ưu tuyển để đến cung chiêm Vua Trời đất khi Ngài mới hạ sinh … Con lừa vẫn cứ âm thầm lặng lẽ mang Chúa trên vai, và tiến bước một cách ngoan thuần. Nó khiêm tốn bước đi để Chúa hướng dẫn, và suốt đời nó mãi mãi vẫn chỉ là một con lừa mà thôi. Cuộc hành trình ơn gọi của mỗi người chúng ta cũng phải giống như vậy. “Đời tôi tiến bước như một con lừa” chính là như thế…”[2].
2.2. Đến… những con lừa khác trong Giáo phận:
Trong cuộc họp HĐMV năm 2018, tôi có nhắc tới một vài nhân vật. Hôm nay, tôi muốn nhắc lại khi gán thêm hình ảnh “con lừa”. Vâng,
– Con lừa chở Chúa đó là bà Bộ ở Nhơn Hải, đêm ngày ước mong có được một nhà thờ cho giáo họ; và đã cụ thể hoá nỗi ước mơ đó bằng một cuộc đời đạo hạnh, hằng ngày lần mười mấy chuỗi Mân Côi, không bỏ một lễ Chúa Nhật nào, và không ngại nắng mưa, gió rét, hết chạy đến cha sở tới, lại về Toà Giám Mục, ra tận cửa cơ quan chính quyền… để kêu xin trợ giúp thủ tục và hồ sơ có được đất đai và cơ sở xây dựng nhà thờ.
– Con lừa chở Chúa đó là cộng đoàn anh chị em di dân Bắc Kỳ tại giáo họ biệt lập Ba Tơ thuộc miền núi Quảng Ngãi, xa xôi cách trở vẫn cố nhắc bảo nhau giữ đạo, quảng đại góp công góp sức, trung thành họp nhau kinh nguyện gia đình, giữ ngày Chúa Nhật… để hôm nay đã có được một mái ấm đơn sơ sớm hôm họp nhau kinh lễ.
– Con lừa chở Chúa đó là anh Tài ở trên giáo điểm Tân Thuộc, một vùng trắng tôn giáo của huyện Vĩnh Thạnh, nhưng vẫn can đảm trung thành làm chứng đức tin và sống đạo với muôn khăn khó ngặt nghèo, để minh chứng: đạo Chúa vẫn hiện diện ở vùng sâu vùng xa heo hút nầy.
– Con lừa chở Chúa đó là chú Thanh, ông cố của sr. Quyên ở Sơn Nguyên hay anh Thiên, anh Hiệp ở Ngọc Thạnh…, “mâm nào cũng có”, công việc nào của giáo xứ cũng tham gia, từ chức việc tới Legio, từ TNTT tới MTG Tại thế, từ ca đoàn tới GLV… miễn sao Chúa được vinh danh, cha sở bớt nhọc nhằn, cộng đoàn được nở mày nở mặt…”.
Tôi không muốn nhắc đến những “con lừa khác” là các anh em linh mục, các cha chánh và phó xứ, các cha quản nhiệm giáo họ biệt lập, các cộng đoàn nữ tu trong Giáo phận hay những vùng miền xa xôi khác, các anh chị giáo lý viên, các chức việc, hội viên Legio Mariae, MTG. tại thế, các ca viên ca đoàn, ban giúp lễ… Vâng, mỗi người mỗi cách, chúng ta đều có thể biến mình thành một “chú lừa con” khiêm hạ, dễ thương, cần cù, vui vẻ… để mang Chúa Giêsu cho nhiều người, để Tin Mừng sáng lên giữa đời thường cuộc sống. Một thừa sai, một nhà truyền giáo không nhất thuyết phải là một thánh Phanxicô Xavie, một Alexandre de Rhodes… với những công trình “để đời”, mà đơn giản, là một viên men, hay muối âm thầm giữa đời thường cuộc sống.
II. TRUYỀN GIÁO: PHẢI HIỆP HÀNH
1. Một định hướng xuyên suốt trong truyền thống của Hội Thánh:
Định hướng “hiệp hành” là một lựa chọn xuyên suốt của Giáo Hội mà Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới XVI chỉ là một nhấn mạnh lại:
“Được bắt nguồn từ Truyền thống của Giáo hội, toàn bộ hành trình hiệp hành đã diễn ra trong ánh sáng của Giáo huấn Công đồng. Thật vậy, Công đồng Vaticanô II giống như một hạt giống được gieo vào cánh đồng thế giới và Giáo hội. Cuộc sống hằng ngày của các tín hữu, kinh nghiệm của các Giáo hội trong mỗi dân tộc và mỗi nền văn hóa, nhiều chứng từ về sự thánh thiện, và suy tư của các nhà thần học là những mảnh đất để hạt giống đó nảy mầm và phát triển. Thượng Hội đồng 2021-2024 tiếp tục nuôi dưỡng hạt giống này và phát huy tiềm năng của nó, áp dụng nó vào thực tế theo như những gì Công đồng đã dạy về Giáo hội như là Mầu nhiệm và như là Dân Thiên Chúa, được mời gọi nên thánh thông qua một cuộc hoán cải liên tục xuất phát từ việc lắng nghe Tin mừng. Theo nghĩa này, hành trình hiệp hành là một hành động tiếp nhận Công đồng cách sâu xa hơn, và từ đó, đào sâu thêm nguồn cảm hứng của Công đồng và tiếp thêm sức mạnh cho tính ngôn sứ của Công đồng đối với thế giới ngày nay.” (VKCK số 5).
2. Hiệp hành trong sứ mệnh truyền giáo hôm nay:
2.1. Giai đoạn để hiện thực hóa hiệp hành:
“Tiến trình hiệp hành không kết thúc khi Đại hội hiện tại của Thượng Hội đồng Giám mục khép lại, mà còn bao gồm cả giai đoạn thực thi … Các Giáo hội địa phương được mời gọi tiếp tục cuộc hành trình hằng ngày với phương pháp thỉnh ý và phân định theo phong cách hiệp hành, xác định các đường lối cụ thể và các tiến trình đào tạo để đạt được một sự hoán cải hiệp hành hữu hình trong các thực tại khác nhau của Giáo hội (các giáo xứ, các hội dòng đời sống thánh hiến và các tu đoàn đời sống Tông đồ, các hiệp hội và phong trào giáo dân, các giáo phận, các Hội đồng Giám mục, các nhóm Giáo hội, v.v…).” (VKCK số 9).
2.2. Hiệp hành truyền giáo và câu chuyện của chúng ta:
Để thực hiện chương trình “hiệp hành truyền giáo”, điều cần thiết và quan trọng đầu tiên đó chính là biết khiêm nhường hoán cải.
2.2.1. Sự hoán cải trên bình diện cá nhân: Trở về với Đấng Phục Sinh: (Ga 20,1-2).
– Văn kiện chung kết:
“Các Tin Mừng dạy chúng ta rằng để bước vào đức tin Phục sinh và trở thành chứng nhân của đức tin này, mỗi người cần phải nhận ra sự trống rỗng nội tâm mình, đó là bóng tối của sự sợ hãi, hoài nghi và tội lỗi. Nhưng những ai ở trong bóng tối mà có can đảm ra đi tìm kiếm, thì họ sẽ khám phá ra rằng chính mình mới là người đang được tìm kiếm. Họ được gọi đích danh, được tha thứ và đến lượt mình, họ cũng được sai đi cùng với các anh chị em mình.” (VKCK số 14).
– “Niềm vui của Tin Mừng”:
“Một người truyền giáo đích thực, người không bao giờ thôi là một môn đệ, biết rằng có Đức Kitô cùng đi với mình, nói với mình, thở với mình, làm việc với mình. Họ cảm nhận được Đức Giêsu sống với mình giữa công cuộc truyền giáo. Nếu không nhìn thấy Ngài hiện diện tại tâm điểm sự dấn thân truyền giáo của chúng ta, lòng phấn khởi của chúng ta sẽ sớm nhạt nhoà và chúng ta không còn chắc chắn mình đang thông truyền điều gì; chúng ta thiếu sinh lực và đam mê.” (EG 266).
2.2.2. Sự hoán cải trên bình diện tương quan: Trên con thuyền Phêrô: (Ga 21,2-3)
– Hoán cải tương quan với “nghệ thuật đồng hành”:
“Hội Thánh sẽ phải dẫn đưa mọi người—linh mục, tu sĩ, và giáo dân—vào trong “nghệ thuật đồng hành” này, nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác (xem Xh 3:5). Bước chân đồng hành này phải có nhịp đều và vững vàng, phản ánh thái độ gần gũi và cái nhìn cảm thông của chúng ta, giúp chữa lành và khích lệ sự tăng trưởng trong đời sống Kitô giáo.” (EG 169).
– Hoán cải tương quan: hiện thực hóa đức tin qua cuộc sống:
“Do đó, để trở thành một Giáo hội hiệp hành, chúng ta cần phải mở lòng mình hướng đến một sự hoán cải thật sự trong các mối tương quan, điều sẽ định hướng lại các ưu tiên của mỗi người. Chúng ta phải học lại từ Tin mừng rằng việc chăm sóc các mối tương quan không chỉ là một chiến lược hay công cụ để đạt hiệu quả cao hơn về mặt tổ chức, mà đúng hơn đó là cách Thiên Chúa Cha mạc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta để cho các mối tương quan dù còn mong manh của chúng ta được chiếu qua bởi ân sủng của Chúa Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, thì chúng ta tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi bằng chính đời sống của mình.” (VKCK số 50).
2.2.3. Sự hoán cải trên bình diện cộng đoàn: (Ga 21,8.11)
– Cộng đoàn và “chọn lựa truyền giáo” thay vì “dưỡng giáo”:
“Tôi ước mơ một “chọn lựa truyền giáo”, nghĩa là một nỗ lực truyền giáo có khả năng biến đổi mọi sự, để các thói quen, các cách hành động, các giờ giấc và chương trình, ngôn ngữ và các cơ cấu của Hội Thánh có thể được khai thông thích hợp cho việc loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay, hơn là cho sự bảo tồn của Hội Thánh.” (EG 27)
– Cộng đoàn “mở”, “đi ra” thay vì “ở lại”, “khép kín”:
“Vì vậy chúng ta hãy đi ra, đi ra để cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Giêsu Kitô. Ở đây tôi lặp lại cho toàn thể Hội Thánh điều tôi từng nói cho các linh mục và giáo dân ở Buenos Aires: Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Hội Thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục.” (EG 49)
– Cộng đoàn cảm thông, chia sẻ, hiệp thông … thay vì vô cảm, ích kỷ:
“Một cộng đoàn loan báo Tin Mừng dấn mình vào đời sống hằng ngày của dân chúng bằng lời nói và hành động; công đoàn ấy vượt qua các khoảng cách, sẵn sàng hạ mình khi cần, và ôm ấp đời sống con người, chạm vào thân thể đau khổ của Đức Kitô nơi người khác. Như vậy, các người loan báo Tin Mừng mang lấy “mùi của đàn chiên” và đàn chiên sẵn sàng nghe tiếng của họ. Một cộng đoàn loan báo Tin Mừng cũng nâng đỡ, đồng hành với dân chúng ở mỗi bước đi trên đường, bất kể con đường này có thể dài hay khó đi bao nhiêu.” (EG 24).
2.2.4. “Bắt mạch” các cộng đoàn trong Giáo phận của chúng ta hôm nay:
– Chuyện giáo xứ, giáo họ:
Đã qua cái thời “êm đềm” của các giáo xứ. Ngày xưa, nhất là thời “Đệ nhất Cộng Hòa”, các giáo xứ trong Giáo phận chúng ta nói được là đã trải qua một thời êm đềm. Với sự ổn định về mặt xã hội: luân lý lành mạnh, trật tự xã hội ổn định, văn hóa giáo dục nhân bản và khai phóng, kinh tế phát triển điều hòa… các giáo xứ là một “cộng đoàn sống đạo truyền thống”, ổn định, ngăn nắp đâu vào đó; nhất là nét sống đạo nghiêm túc trại gia đình… Rồi chiến tranh nổ ra, phần đông các giáo xứ bị tiêu tán do chiến tranh tàn phá, tị nạn, di cư… Khi hòa bình trở lại, sau một thời gian đối diện với đói nghèo, kham khổ của cơ chế chính trị xã hội mới theo xã hội chủ nghĩa, các giáo xứ lần lượt được tái thiết lập nhưng gần như cũng mất đi “một thời êm đềm ổn định”: truyền thống đức tin tại gia bị khủng hoảng, việc giáo dục đức tin bị hạn chế vì nhu cầu miếng cơm manh áo và do ảnh hưởng của nền văn hóa giáo dục xã hội chủ nghĩa… Ngày nay, trước trào lưu của phát triển vượt bực về công nghệ, nhất là lãnh vực truyền thông, cùng với nhu cầu hưởng thụ, tìm kiếm giá trị trần tục, các cộng đoàn cũng đang đối diện với làn sóng thế tục hóa, khủng hoảng đức tin, rạn nứt hiệp thông, khan hiếm ơn gọi, nghèo nàn phụng vụ và đạo đức bình dân…
– Các giáo xứ lớn (quan trọng): Chính Tòa, Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Qui Đức, Phú Hòa… không ít thì nhiều cũng có những vấn đề liên quan đến “tương quan mục vụ” (Cha sở với giáo dân, với HĐGX, với cha phó, với các nữ tu, với các hội đoàn…). Không giáo xứ nào có thể chủ quan để “tự ru ngủ” trong hiện trạng khi cho mình là nhất, là không có vấn đề gì…
– Các giáo xứ còn lại, các giáo họ biệt lập và giáo họ: đa phần khủng hoảng về nhân sự: thiếu giáo lý viên hoặc giáo lý viên không đạt phẩm chất kiến thức và kỹ năng, hàng ngũ chức việc cũng vậy. Giới trẻ bị “chảy máu chất xám” do việc học hành hay mưu sinh. Khó khăn trong việc đào tạo (chuyên viên phụng vụ: đệm đàn, ca trưởng…; linh hoạt viên giới trẻ; huynh trưởng TNTT; chuyên viên truyền thông, văn hóa). Cũng không loại trừ những hiện tượng tiêu cực ngược lại tính hiệp hành vẫn còn tồn tại nơi một số giáo xứ, giáo họ (Lục Lễ, Ghềnh Ráng, Gia Chiểu, Sông Cát, Nam Bình, Xóm Làng…)… Tất cả cùng soi mình vào các chỉ dẫn của Giáo Hội để canh tân.
– Chuyện Dòng tu:
Các Hội Dòng và cộng đoàn tu sĩ, đặc biệt hai Hội Dòng nữ của Giáo phận: Mến Thánh Giá Qui Nhơn và Nữ Tỳ Chúa Giêsu tình thương, không được chủ quan hay tự hào là “không có vấn đề gì nghiêm trọng” để phải hoán cải. Hãy lắng nghe, phân định, đổi mới và hoán cải để mang “bầu da mới Tin Mừng”:
“Đừng sợ thay đổi mọi thứ theo luật Tin Mừng. Đó là lý do tại sao Giáo Hội yêu cầu tất cả chúng ta thực hiện vài thay đổi. Giáo Hội yêu cầu chúng ta bỏ lại một bên các cơ cấu đã lỗi thời: chúng không còn hữu ích nữa! và hãy đón nhận những bầu da mới, bầu da Tin Mừng. Tin Mừng là sự mới mẻ! Tin Mừng là lễ hội! Và người ta chỉ có thể sống Tin Mừng cách trọn vẹn bằng một tâm hồn vui tươi và một con tim được đổi mới. Mặt kahcs, cần dành chỗ cho luật của các mối phúc, cho niềm vui và tự do mà sự mới mẻ của Tin Mừng mang đến cho chúng ta…”[3].
Chuyện “khủng hoảng ơn gọi” không đơn thuần là do “một bên trái” (gia đinh và giới trẻ hôm nay) mà còn từ “một bên phải” là chính cuộc sống của người tu sĩ và cộng đoàn tu trì. Chính cuộc sống không còn mang “hương vị Tin Mừng” khiến đời tu không còn hấp dẫn để thuyết phục người ta đi theo hay làm gãy đổ những ơn gọi đang có!
– Chuyện các chủ chăn và “lãnh thổ hiện sinh”:
Các linh mục Giáo phận Qui Nhơn, trong cuộc thường huấn tháng 9 năm 2025 vừa qua, đã suy tư học hỏi chủ đề “TỪ HOÁN CẢI CON NGƯỜI ĐẾN HOÁN CẢI CƠ CẤU” mà nội dung chính là Huấn thị của Bộ Giáo sĩ mang tên “CẢI TỔ MỤC VỤ CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ ĐỂ PHỤC VỤ SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG CỦA HỘI THÁNH”. Hy vọng những gì được học hỏi, sẻ chia, đón nhận trong cuộc thường huấn sẽ không trở thành những “giáo điều” đem cất vào kệ sách nhưng được gieo vãi ngay trên mảnh đất là “khu vườn giáo xứ”, một “lãnh thổ hiện sinh” phải được đổi mới canh tân và hướng đến tương lai, như Huấn thị nêu rõ:
“Chính trong ‘lãnh thổ hiện sinh’ này, mà Hội Thánh đang phải đối diện với những thách đố đang diễn ra ngay trong lòng cộng đoàn. Vì thế, bất cứ hoạt động mục vụ nào mà chỉ giới hạn trong lãnh thổ của giáo xứ đều trở nên lỗi thời, đó là điều mà chính người giáo dân nhận thấy khi giáo xứ của họ có vẻ bảo thủ chỉ biết hoài cổ thay vì bạo dạn hướng về tương lai” (HT số 16).
Kết: Lại chuyện “chú lừa con”
Chắc chắn bài chia sẻ hôm nay đã vượt khung cho phép của một cuộc “đối thoại trong Thánh Thần”. Tuy nhiên, theo tinh thần và sự chỉ dẫn của Ban Điều Phối HĐMVGP, cuộc họp mặt của chúng ta hôm nay cần có một “nội dung định hướng” để gợi ý cho các cuộc sẻ chia và đối thoại.
Thay cho lời kết, xin được nhắc lại câu chuyện “XIN CHỌN LÀM CHÚ LỪA CON”, qua ngôn ngữ của một bài thơ lục bát:
Tôi xin làm chú lừa con,
Lưng hèn mang Chúa trèo non qua đèo.
Chú lừa con, phận đơn nghèo,
Chúa dùng Chúa bỏ vâng theo mọi bề.
Mỉm cười dù Chúa có chê,
Vừa thân đi chậm vừa quê dáng nhìn.
Âm thầm lừa cứ lặng thinh,
Cùng Ngài gieo bước đăng trình đường xa.
Không tự hào chẳng reo ca,
Mệt nhòa cam chịu rên la chẳng hề.
Dẫu đường sỏi đá nhiêu khê,
Miễn sao cõng Chúa đi về bình yên.
Dẫu ai chê dẫu người khinh,
Phận lừa mang Chúa vào thành là ngon.
Xin chọn làm chú lừa con,
Một đời hạnh phúc vuông tròn ý Cha!
LM. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN TỔNG ĐẠI DIỆN GIÁO PHẬN QUI NHƠN
[1] ĐHY ROGER ETCHEGARAY, Nguyên tác: J’avance comme un âne – Như một con lừa…tôi tiến bước, Dịch giả: Nguyễn Thị Chung, Nxb Tôn Giáo 2010, tr. 5-6.
[2] X. website http://kinhmungmaria.com
[3] BỘ CÁC HỘI DÒNG THÁNH HIẾN VÀ TU ĐOÀN TÔNG ĐỒ, Rượu mới – Bầu da mới, Đời thánh hiến và những thách đố từ sau Công đồng Vaticnô II, bản dịch: Học viện Đa Minh tháng 5.2028, tr. 35.


